15:57 EST Thứ sáu, 17/11/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Khu Vực Đăng Bài

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 30

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 29


Hôm nayHôm nay : 3709

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 42886

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7613289

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Trang nhất » Tin Tức » Nghệ Thuật Quân Sự

Tinh thần ngày cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9 bất diệt

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Mìn bươm bướm. Quá khứ và hiện tại

Chủ nhật - 08/12/2013 10:25
Mìn bươm bướm. Quá khứ và hiện tại

Mìn bươm bướm. Quá khứ và hiện tại

Chiến tranh Việt nam 1964 – 19975. Đến năm 1968, quân đội Mỹ đã mất quá nhiều những khu vực có thể kiểm soát được ở miền Nam Việt Nam. Và cũng càng ngày càng không thể ngăn chặn được những đơn vị Quân giải phóng Miền nam Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam tiến sâu vào chiến trường Miền Nam. Tình hình đó đồng nghĩa với thảm bại.
Không có những phương tiện vận tải cơ giới hùng mạnh (máy bay, trực thăng, xe vận tải cơ giới) và cũng không thể cơ động trên những tuyến đường giao thông, Giải phóng quân và quân đội nhân dân Việt Nam cơ động bằng đôi chân luồn rừng và lội qua những cánh đồng ngập nước, mang trên vai mình cơ sở vật chất chiến trường, từ những đôi chân và đôi vai họ lập kế hoạch tác chiến, tấn công các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ và quân đội chính phủ Sài Gòn. Đối với quân đội Mỹ, cắt đứt các tuyến đường vận tải là cắt đứt khả năng tấn công của Quân giải phóng, dành lại thế chủ động trên chiến trường.


Nhưng những tuyến đường qua rừng rậm nhiệt đới có khả năng che phủ mọi hoạt động của Quân giải phóng. Những cuộc không kích dai dẳng vả hỏa lực pháo binh hải quân vào những chỗ nghi ngờ làm tổn thất vô cùng lớn về cơ sở vật chất và chẳng đem lại hiệu quả nào đáng kể. Bài toán cũng là đáp án, không thể tiêu tốn thời gian và tiền bạc cho những cuộc tìm kiếm Quân giải phóng bằng hỏa lực, phải buộc họ tìm thấy sự tổn thất của mình, có nghĩa là sử dụng mìn. Nhưng gài mìn trong rừng nhiệt đới hoặc trên những cánh đồng ngập nước, rừng chàm, rừng đước cũng sẽ không đưa lại kết quả gì để biện minh cho tổn thất của lính Mỹ. Cần phải cài mìn trên một không gian chiến trường rộng lớn vào thời điểm cần thiết, trong khoảng thời gian ngắn, với chi phí thấp nhất và không tổn thất về sinh lực.
Cuối cùng, các chuyên gia quân sự Mỹ cũng đưa ra được một giải pháp, sau này được gọi là rải mìn tầm xa không điều khiển, có nghĩa là rải mìn, người rải không có mặt trên khu vực rải mìn. Mìn được đưa đến khu vực rải mìn và phóng rải băng máy bay, trực thăng, tên lửa và pháo binh. Điều kiện quan trọng là phải mang được càng nhiều mìn càng tốt, do đó, mìn được thu nhỏ lại. Không quan trọng là loại mìn nào, cũng không quan trọng là tiêu diệt sinh lực, quan trọng là làm tổn thất về sinh lực, gây tổn thương, phần còn lại là điều kiện khắc nghiệp của rừng nhiệt đới và môi trường nhiễm độc cao.
Túi đựng thuốc nổ Hexogen
Trong khuôn khổ của dự án đầu tiên được đề nghị các túi đựng thuốc nổ Hexogen loại Graval. Cấu tạo của túi đựng mìn rất đơn giản- một cái túi phẳng bằng vải không thấm nước có đường kính 5 x 5 cm. Phía trong có 2 túi nhựa tổng hợp hoặc sợi thủy tinh là hỗn hợp azide N3 chì (một loại thuốc nổ rất nhạy nổ với tác động bên ngoài) và Hexogen, Ngoài ra không có gì cả, không có bộ phận kích nổ và cũng không có bộ phận khóa an toàn. Chỉ cần đạp chân lên túi đủ nặng, hỗn hợp sẽ nổ tức thời và hủy hoại bàn chân.


Mìn được đặt vào các quả bom casset loại SUU -41B/A. Trong mỗi casset, tùy thuộc vào mã hiệu của mìn, có từ 1470 đến 7500 quả mìn. Kích thước nhỏ nhất là XM44- chỉ có 2,5 x 2,5 cm. Loại lớn nhất XM41 bằng ¼ vòng tròn có đường kính là 8,9 cm.
Thùng casset được nạp đầy freon là một chất lỏng làm lạnh có khả năng thấm vào túi mìn và làm cho azide Nkhông nhạy nổ với tác động bên ngoài. Casset bom được ném trong khoảng từ 600 đến 6000m so với mặt đất với vận tốc của máy bay từ 370 đến 1300 km/h. Trên độ cao từ 200 đến 300 m bom mở ra và mìn bươm bướm ( theo cách gọi của Quân giải phóng) được rắc trên địa hình. Freon sẽ bay hơi và sau 3 đến 8 phút azide chì sẽ phục hồi khả năng nhạy nổ với tác động bên ngoài. Cần nhớ là túi mìn không thấm nước. Với một quả bom mẹ, nếu thực hiện đúng độ cao ném bom, thì mìn bươm bướm sẽ bao phủ một diện tích có chiều từ 40 đến 60 m, không thể đi qua đó mà không bị tổn thương.
Nhưng rất nhanh chóng người Mỹ nhận thấy rằng, một số lượng rất lớn mìn rơi tản mát vào các cành cậy rậm rạp của núi rừng và không chạm xuống đất. Lượng nổ của mìn rất nhỏ nên chỉ làm bị thương những người đi dép và đi đất. Nếu đi giầy da thì chỉ gây tê bại chân. Đồng thời giải pháp kỹ thuật cũng không hoàn hảo, túi mìn cũng bị rò rit do khâu bằng chỉ, do đó để lâu độ ẩm của núi rừng làm chỉ mục và mìn mất tác dụng do thấm nước. đồng thời rất nguy hiểm khi giữ mìn trong các thùng bom casset. Chỉ cần bị rò rỉ một chút thì Freon sẽ bay hơi ngay trong kho chứa bom và thùng casset bom trở lên vô cùng nguy hiểm đối với lực lượng sử dụng.
Mìn bươm bướm loại Graval theo kết quả được nhận là không sử dụng được và không được biên chế chính thức trong vũ khí trang bị của quân đội Mỹ (tất cả các loại vũ khí qua thử nghiệm trên chiến trường đều có chữ X trước mã hiệu)
Đồng thời, các sỹ quan Mỹ nhận thấy rằng, loại mìn Graval đem lại cho họ nhiều phiền toái hơn là cho lực lượng Giải phóng quân. Khi rải mìn từ máy bay hoàn toàn không có khả năng vẽ trên bản đồ vị trí và kích thước của trận địa mìn. Có nghĩa là lĩnh Mỹ cũng không thể tự do đi lại trong những khu vực đó. Công binh không thể tìm được mìn, do nó không có kim loại, nếu dùng thanh thuốn chọc thì nó sẽ phát nổ. Đồng thời mìn buộc phải phá nổ ngay tại chỗ, lượng nổ sử dụng còn lớn hơn cả chính quả mìn.
Từ đó, xuất hiện nhu cầu chế tạo các loại mìn rải từ xa- sau một thời gian nhất định nó phải tự hủy hoặc tự động chuyển sang trạng thái khóa an toàn.
Răng của Rồng Dragon-tooth
Sau một thời gian xuất hiện một loại mìn chống bộ binh mới, cũng được rải từ máy bay, bằng bom casset, không khác về kích thước so với loại mìn Graval, nhưng hiện đại hơn và mạnh hơn. Đồng thời nó có khả năng tự hủy sau một thời gian nhất định ( vài giờ) Loại mìn này có tên là Răng rồng (Dragon-tooth). Lưu trữ nó trong bom casset an toàn hơn do nó có thiết bị kích nổ cơ khí và không thể nổ nếu không rơi ra khỏi bom mẹ trên không.  



Loại mìn này nhỏ gọn trên lòng bàn tay, nặng 90 g và có hình dạng như cánh bướm ( do đó có tên là bom bươm bướm) Loại hình dạng này không phải là ngẫu nhiên, khi văng ra khỏi bom mẹ, mìn bay ra khắp mọi hướng, quay vòng trong không khí, lách qua vòm lá và rơi trên mặt đất với tốc độ không cao. Trục trọng tâm của mìn chưa bộ phận kích nổ mìn, bộ phận cơ khí kích hoạt mìn và bộ phận tự hủy. Một phía của ống trục trung tâm là cánh mìn cứng, phía bên kia là túi polyetilen mềm chứa thuốc nổ lỏng. Sự sáng tạo trong ý tưởng là túi chất lỏng vừa là thuốc nổ, vừa là cảm biến mục tiêu, truyền áp lực của chân người đạp lên nó lên thiết bị gây nổ, kích hoạt kíp nổ làm nổ mìn, sát thương người lính đối phương.
Khi mìn rơi xuống đất, cánh mìn giúp nó có tư thế đúng, và sau mấy phút mìn đã ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Đồng thời thiết bị tự hủy bắt đầu hoạt động để đếm giờ. Nếu sau một thời gian nhất định không có ai dẫm lên mìn, thì mìn sẽ tự phát nổ.
Nhưng nếu có ai đó dẫm lên mìn, lên túi nhựa, chất lỏng dưới áp lực của bàn chân sẽ truyền áp lực lên thiết bị kích nổ thủy lực, và kích nổ mìn. Thiết kế tỏ ra nhỏ, gọn, hợp lý và ổn định, hiệu quả đạt được rất cao. BLU43/B được nhận vào biên chế.


Mối liên hệ: máy bay- bom casset- mìn chống bộ binh BLU43/B thực tế đã trở thành loại vũ khí, phương tiện rải mìn đường không tốt nhất và hoàn thiện nhất trên thế giới. Nhưng vào thời điểm xuất hiện mìn bươm bướn BLU43/B cũng là lúc quân đội Mỹ đã hoàn toàn mất thế chủ động trên chiến trường, không thể quản lý được khu vực tác chiến và do đó không thể đánh giá được hiệu quả của phương thức rải mìn đường không chống bộ binh.
Hội chứng của sự thất bại chiến tranh Việt Nam. Đồng thời sự tổn thất nặng nề của của ngân sách quân sự Mỹ đã buộc nước Mỹ phải điều chỉnh ngân sách quốc phòng. Do đó loại mìn này đã bị loại khỏi biên chế, các cơ số mìn có trong kho bị tiêu hủy.
Bươm bướm tử thần
Nhưng loại mìn này được đánh giá rất cao trong lực lượng sỹ quan công binh Xô viết, phục vụ ở Việt nam với tư cách cố vấn quân sự, đồng thời có tham gia trên đường Hồ Chí Minh, họ đã không ít lần cũng với những người bạn chiến đấu Việt Nam nằm dưới trận mưa mìn bươm bướm và hiểu rất rõ, cần bao nhiêu thời gian và công sức bằng mắt thường phát hiện ra các con bướm mầu cỏ úa và cẩn thận dò chân đi qua bãi mìn nhạy nổ đó, luôn chờ đợi một tiếng nổ chát chúa dưới chân mình. Trong 1 ngày sáng sủa cũng chỉ có thể đi được khoảng 100m hoặc đơn giản là ngồi đợi cho mìn tự hủy. Trên chiến trường, nếu rơi vào tình huống đó là coi như bị giam trong bãi mìn, hoặc là sẽ bị tiêu diệt, bị bắt sống, hoặc là sẽ nằm chịu trận dưới hỏa lực của đối phương.
Các chuyên gia quân sự Xô Viết đã mang về Maxcova một số lượng đủ các mẫu mìn và bom casset. Thời gian sau đó, loại mìn tương đương PFM-1 sản xuất tại Liên Xô ra đời.
Có tất cả hai loại mìn: Loại tự hủy và loại không tự hủy, nếu là không tự hủy, bạn sẽ phải đốt cả khoảng rừng để tiêu diệt loại mìn này. Loại tự hủy Quân đội Liên Xô đặt mã hiệu biên chế là PFM-1S, loại không tự hủy có mã hiệu là PFM-1. Trong PFM-1 không có thiết bị tự hủy, thay bằng  kim hỏa, lò xo và pittong là miếng kim loại cân bằng. Loại mìn này có thể lẫn vào lá rụng hoặc rác rưởi, nằm chờ nạn nhân của mình với thời gian không định trước.


Mìn bươm bướm PFM-1 (PFM-1S) được sắp xếp trong các thùng casset bằng nhôm đa dụng có chiều dài 48 cm và 14 cm đường kính, Mỗi ống casset có 72 quả mìn PFM-1 (PFM-1S). Có thể chỉ là mìn PFM-1 hoặc chỉ là PFM-1hoặc là cả 2 loại mìn này tùy theo yêu cầu tác chiến.

Không khác hơn theo thiết kế, mìn PFM-1S hoàn toàn giống mìn BLU43/B của Mỹ, có chiều dài 11,9mm, rộng 6,4mm, dầy 2 cm. khối lượng thuốc nổ là 40g VS-6D. Khối lượng đè nổ là từ 5kg đến 25 kg. Kích nổ thủy động lực VGMS-572 . 

  Vụ nổ thực hiện khi chất lỏng-thuốc nổ nén lên bộ phận thủy lực. Thiết bị kích nổ khá đơn giản, bao gồm:  kim hỏa (1), ống kim hỏa (2), bi hãm kim hỏa (3), đai hãm bi(4) Đế trượt (5)chứa hạt lửa và hạt lửa .Kíp nổ (6). Nắp chụp lò xo chủ động 8 gắn với trục 7, dây khóa an toàn 9 và chất keo 10. . Khi mìn bị ném văng ra khỏi ống casset, dây an toàn bị giữ lại. Lò xo chủ động bị nén từ từ giãn ra, nhưng do sức ép của chất keo 10 nên rãn ra từ từ khi keo bị nén chẩy ra ngoài ca chứa keo. Tốc độ chẩy của keo phụ thuộc vào nhiệt độ mùa hè là 1 phút, mùa đông là 15 phút, đó cũng là thời gian rơi của mìn. Khi Lò xo rãn hết lên phía trên. Mìn đã ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.  
  Vị trí của các bộ phận kíp mìn khi mìn ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Khi mìn vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu thì quá trình tự hủy bắt đầu. Bộ phận tự hủy bao gồm chốt 11, pittong 12 với lỗ thoát chất lỏng, lò xo 13 và khoang chứa chất lỏng keo 14. Dưới tác dụng của lò xo pittong bắt đầu di chuyển lên phía trên. Và đẩy bộ phận đế đựng hạt lửa và hạt lửa, kíp nổ lên phía trên, do tính hãm của chất keo lỏng, lò xò từ từ đi lên, chất keo cũng từ từ qua lỗ thoát đi xuống phía dưới, đế hạt lửa chuyển tù trạng thái nghiêng sang nằm đối xứng với kim hỏa. Lò xo đẩy Pittong, kíp, đế hạt lửa và hạt lửa lên phía trên cho đến khi lò xò đầy ống kim hỏa đến chỗ viên bi hãm văng ra ngoài, kim hỏa lao xuống hạt lửa, kích nổ mìn ở chế độ tự huỷ. Thời gian tự hủy cũng không dứt điểm, kéo dài từ 1h đến 40h, ở nhiệt độ từ +50 đến – 40 độ. ở nhiệt độ 50 oC mìn tự hủy sau 1h.
Nếu dẫm lên mìn trong thời gian đến tự hủy, mìn sẽ phát nổ, quá trình phát nổ cũng tương tự như tự hủy, nhưng không phải là bộ phận pittong, chốt và lò xo của tự hủy thông tham gia. Chất lỏng-thuốc nổ dưới áp lực của người dẫm, sẽ chảy vào thiết bị kích nổ và nén vào màng cao su, đẩy kíp, hạt nổ và đế hạt nổ lên phía trên, giải phóng bi và gây kích nổ mìn. Đương nhiên, rất không tốt khi thời gian tự hủy phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường. Nhưng các bộ phận đếm giờ điện tử, cơ học khá đắt và lại không an toàn
 
 Khác hơn so với người Mỹ trong quan điểm phóng rải mìn chạm nổ, người Mỹ chú trọng sử dụng máy bay để rải loại mìn này, mìn PFM-1 (PFM-1S) của Nga sẽ được rải từ máy bay cường kích đánh chặn, máy bay cường kích ném bom, máy bay ném bom chiến trường (hệ thống KMG-U) máy bay trực thăng ( hệ thống VMS) đạn pháo phản lực dàn như Uragan hay Shmertr hoặc các thiết bị phóng mìn UMZ trên xe ô tô ZIL 131 hoặc UGMZ trên thân xe bánh xích. Đơn giản hơn là biên chế mìn về các đơn vị bộ binh loại mìn tự hủy (PFM-1S) với các ống phóng mìn PKM. Sử dụng một cơ chế rất đơn giản, sau 2 phút trước mặt lực lượng tấn công trong khoảng cách 30m sẽ là một bãi mìn chống bộ binh. Để vượt qua bãi mìn bất ngờ này, lực lượng tấn công phải sử dụng súng phun lửa để quét ở tầm xa mới mở được của mở, và điều đó hoàn toàn không dễ trong điều kiện tấn công dưới làn hỏa lực tập trung, dù chỉ là hỏa lực bộ binh.
Công ước Ottawa đã có điều kiện cấm sử dụng mìn chống bộ binh loại này, Nhưng để buộc tội và đưa ra tòa án quốc tế một quốc gia nào phá hoại điều ước cần phải có chứng cứ. Nhưng chứng cứ sẽ biến mất sau khi mìn tự hủy. Đồng thời, sử dụng loại mìn này trong điều kiện thông thường chống lại một lực lượng quân sự hùng hậu, có quân số rất đông và buộc phải tác chiến trong điều kiện phòng thủ dưới hỏa lực mạnh gấp nhiều lần của đối phương. Đặc biệt trong điều kiện xa với hậu phương, không nhanh chóng nhận được sự hỗ trợ về hỏa lực hoặc phòng thủ biên giới, hải đảo. Ngoài ra, cũng phải nhận thấy rằng các nước cường quốc về quân sự như Mỹ, Trung Quốc, Nga đều không công nhận công ước Ottawa đồng thời cũng không có ý định ký công ước đó trong tương lại gần. Thực tế - ai sẽ từ chối một loại vũ khí phòng thủ hiệu quả như vậy nếu cuộc chiến tranh sẽ đe dọa quyền lợi chính đáng của quốc gia, dân tộc. Nếu có một thế lực nào đó muốn sử dụng vũ lực để giải quyết tham vọng của họ.

Nguồn tin: www.quocphonganninh.edu.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến chúng tôi thông qua

Do bạn bè giới thiệu

Do vô tình bạn tìm thấy

Do sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet

Phương thức khác

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng