15:59 EST Thứ sáu, 17/11/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Khu Vực Đăng Bài

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 25


Hôm nayHôm nay : 3709

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 42895

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7613298

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Trang nhất » Tin Tức » Phòng Truyền Thống

Tinh thần ngày cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9 bất diệt

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Cánh đồng Chum ngày ấy.....

Thứ hai - 02/09/2013 05:32
Cánh đồng Chum ngày ấy.....

Cánh đồng Chum ngày ấy.....

Kỳ 1: Củ nâu, khoai ngứa thay cơm... Cựu chiến binh Đào Hoa Vương là thương binh hạng 4/4 ở thôn Lỗ Xá, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào-Hưng Yên.
Mới đây, ông Vương trực tiếp mang đến Báo QĐND cuối tuần bản thảo tập hồi ký viết tay "Cánh Đồng Chum ngày ấy..." của ông, với nguyện vọng được đăng báo để liên lạc với đồng đội cũ ở d3, e174B (f316) từng chiến đấu ở Cánh Đồng Chum (Lào) từ năm 1969 đến năm 1971. Qua đối chiếu tài liệu lịch sử và trao đổi với một số cán bộ cũ của Trung đoàn 174, thấy đây là những ghi chép chân thực và công phu. Từ số báo này, QĐND cuối tuần xin trích giới thiệu cùng bạn đọc. 
Kỳ 1:  Củ nâu, khoai ngứa thay cơm...
Trong những ngày đầu tháng 6-1969, Tiểu đoàn 3 của chúng tôi đã triển khai dần dần qua Cánh Đồng Chum và tập kết ở bờ sông Nậm Ngừm.
Cuối tháng 6-1969, tiểu đoàn 3 cùng với các đơn vị của e148 vượt sông Nậm Ngừm vào đánh chiếm Mường Sủi. Sau một đêm chiến đấu, địch đánh trả quyết liệt, nhưng gần sáng ta đã giải phóng hoàn toàn Mường Sủi. Đại đội 11 chúng tôi làm nhiệm vụ lùng sục truy kích bọn tàn quân địch ở khu bản Na Nuông và khu vực Lũng Khoai (Hang Trâu). Đến đêm 30-6-1969, Đại đội 11 do tiểu đoàn chỉ huy đánh chiếm Phu Xen Luông. 2 giờ sáng 1-7-1969, ta giải phóng hoàn toàn Phu Xen Luông. Những tên địch còn sống sót đã bỏ chạy hoàn toàn và máy bay C130 của địch đến thả pháo sáng bắn như đổ đạn xuống điểm cao của Phu Xen Luông, loại đạn 20mm, đỏ rực như những dòng lửa cứ xối xả ào ạt xuống đỉnh đồi rồi lại nổ tiếp lần nữa làm cho cả khu đồi bụi mù đất đá và khói lửa.
Bộ phận chúng tôi hầu hết đã bị thương vong và tôi cũng đã bị thương ngay từ loạt đạn đầu lúc hơn 2 giờ sáng. Sau thời gian được đi điều trị vết thương ở các đội phẫu tuyến trên, đến ngày 27-7-1969, tôi được ra viện và tiếp tục về đơn vị chiến đấu. Lúc này, đại đội trưởng Nguyễn Phương người quê ở Quảng Ngãi đã được chuyển đi nơi khác, anh Ngô Hậu người ở Vĩnh Phú được đề bạt làm đại đội trưởng.


Tác giả Đào Hoa Vương trước ngày đi bộ đội, tháng 8-1968.
Trong tháng 8-1969, đại đội của chúng tôi vẫn làm nhiệm vụ giữ đất vùng mới giải phóng phía trong khu Mường Sủi và thường xuyên lùng sục truy quét địch. Suốt tháng 9-1969, Đại đội 11 của chúng tôi hàng ngày thường xuyên đụng độ với tàn quân địch ở khu Trăm Bản, cách Mường Sủi gần một ngày đường. Thời gian này, chúng tôi tự túc lương thực và thực phẩm hoàn toàn do toàn bộ dân ở khu vực được quân đội Pa-thét Lào đưa ra vùng giải phóng hoặc một số bị địch lôi kéo theo. Bà con để lại cho bộ đội rất nhiều ngô, thóc và các loại gia cầm. Chúng tôi lại vào các đồn địch trong khu giải phóng thu chiến lợi phẩm, nên sinh hoạt cũng đầy đủ.
Đầu tháng 10-1969, đại đội tôi cùng với tiểu đoàn được lệnh hành quân ra Cánh Đồng Chum. Bấy giờ, toàn bộ khu Cánh Đồng Chum có 18 tiểu đoàn của địch đóng giữ, những điểm cao quan trọng ở tất cả các khu Cánh Đồng Chum đều do địch giải tỏa đóng giữ, cả Phu Nốc Cốc là cửa ngõ của ta từ Nghệ An sang cũng vào tay quân địch. Trong lúc đó, e148 của ta đã về nước, sau khi giải phóng Mường Sủi. Toàn bộ mặt trận Xiêng Khoảng chỉ còn lại Tiểu đoàn 3 của chúng tôi và một số bộ phận tăng cường của e174B bổ sung.
Tiểu đoàn 3 chỉ còn lại khoảng một nửa quân số so với lúc mới sang. Mặc dầu chúng tôi bao vây được Phu Keeng nhưng 18 tiểu đoàn của quân địch lại bao vây chúng tôi. Thời gian này, chúng tôi có anh hùng quân đội Hoàng Văn Vịnh là Trung úy trợ lý chính trị của e174B cùng đi tăng cường với tiểu đoàn chúng tôi. Tuy nhiên, Tiểu đoàn 3 vẫn dưới sự chỉ huy của Đại úy chính trị viên Lò Văn Nhài và Đại úy Khoát là tiểu đoàn trưởng. Từ đây, thông tin liên lạc thì phiên hiệu của tiểu đoàn được nâng cấp gọi là e, đại đội gọi thì là d và các trung đội thì được gọi là c để phô trương thanh thế đánh lừa địch.
Từ khi địch chiếm giữ toàn bộ Cánh Đồng Chum, đường tiếp tế của ta gặp khó khăn và hầu như đã bị đứt hẳn. Các kho B, Kho C ở khu vực bản Son đã bị máy bay địch bắn cháy toàn bộ, hàng tuần bộ phận vận tải của e174B chỉ có 12 người vượt vòng vây của địch vào đơn vị của chúng tôi mà cứ 10 ngày mới có một chuyến từ Khe Đá vào. Gạo thiếu nghiêm trọng, chúng tôi phải ăn củ nâu và khoai dại mà vẫn phải đánh nhau với địch hàng ngày. Anh Đệ già (anh nuôi đại đội, đã gần 40 tuổi, quê ở Thạch Thất-Hà Tây) là người đầu tiên phát hiện ra củ nâu ở xung quanh cửa hầm và rải rác các lối đi lên đỉnh chốt và đường xuống khe suối. Thế là anh Đệ lấy về gọt vỏ, thái ra to như những miếng su hào cho vào soong đun và thay nước nhiều lần, khi thấy nhạt màu củ nâu thì mới cho muối và lá chua vào cùng với một nhúm gạo. Anh Đệ cho 5 ngón tay vào cái túi gạo còn vơi, nhúm lấy gạo thả vào soong củ nâu đang sôi, cốt sao chỉ lấy có hơi màu nước cháo. Anh Đệ múc cháo cho tôi và anh Then, Chính trị viên phó đại đội. Cháo vừa chua vừa chát. Bữa đầu tiên cả ba anh em “xê bộ” cùng nhăn nhó, cố gượng nhưng cũng chỉ ăn được rất ít. Sau mấy bữa ăn quen và cũng vì đói quá nên mỗi người cũng ăn được lưng ca US.

Từ hôm ấy, anh em ở chốt B9 có sáng kiến là dùng dao găm đục cái vỏ ống bơ tạo thành một dụng cụ giống cái đánh săm xe đạp để mài củ nâu thành bột nhỏ như đồng bào miền núi mài củ sắn vừa nhỏ, vừa tơi, tối đến bọc vào mảnh vải màn mang xuống suối ngâm. Sáng hôm sau, khi bột củ nâu trắng ra không còn màu xám nâu nữa thì mang về nấu cháo với vài hạt gạo cùng với lá chua, ăn theo kiểu này đỡ chát hơn là thái miếng như anh Đệ.
Trên cánh rừng Phu Keeng của Cánh Đồng Chum này thật cằn cỗi không có một ngọn rau tàu bay nào cả. Đến khi xung quanh triền núi điểm chốt của chúng tôi không còn củ nâu nào nữa thì một bộ phận lùng sục may mắn phát hiện được một bãi lầy toàn khoai dại, một loại khoai mà ở nhà hay lấy nấu cho lợn ăn. Thế là chúng tôi lại được ăn cháo dọc khoai. Nói là cháo nhưng chủ yếu là dọc khoai chứ không mấy khi nhìn thấy hạt gạo nào, thế mà hàng ngày vẫn diễn ra sự đụng độ giữa ta và địch. Tôi vẫn hàng ngày đi đón thương binh và tử sĩ ở các điểm chốt lân cận.
Cái trận nhịn đói đánh nhau ấy kéo dài gần tháng rưỡi, đến tận cuối tháng 11-1969. Rồi dọc khoai không còn nữa, những cây ổi còi, cây hồng ngâm mọc rải rác, kể cả những quả ổi con chưa rụng rốn cũng không còn. Một bữa, anh Đệ bảo tôi và anh Then: Hôm nay ta làm củ khoai dại cho chúng bay ăn vậy nhé! Anh Đệ gọt sạch củ khoai rồi cắt nhỏ và đun từ lúc 8 giờ sáng, sở dĩ ở đây phải đun ban ngày vì quá gần địch. Chúng tôi không đào bếp Hoàng Cầm mà đun trên mặt đất bằng những que củi rất nhỏ, những que củi khô nỏ khi lấy tay bẻ không có tiếng kêu “cắc” là được. Vì nếu củi to bẻ cũng sợ địch nghe tiếng, hơn nữa đun củi nhỏ nó thoáng kiểu như đun bằng đóm nó không khói, còn ánh sáng lửa ban ngày thì chả sợ, còn ban đêm thì không được đun vì có ánh sáng. Từ lúc 12 giờ trưa, anh Đệ bảo tôi và anh Then nếm thử xem ăn được chưa? Tôi lấy que vót nhọn cắm vào miếng khoai đang nhộn nhạo trong soong nước sôi sùng sục nhưng không cắm được cứ cắm vào nó lại tuột ra chỗ khác, anh Đệ bảo ta thay từ sáng đến giờ ba lần nước rồi mày ạ! Anh Then lấy cái thìa lấy được của địch từ hôm đánh Mường Sủi ra, cái thìa inox nó cũng trơn tuồn tuột lên, mãi mới múc được một miếng, tôi thấy anh Then thổi cứ suỵt soạt. Một lát sau, anh Then lấy tay bịt vào mồm miệng, nước mắt chảy giàn giụa. Tôi hỏi vì sao thì anh Then không nói mà chạy lấy nước súc miệng rồi cho cả bàn tay vào trong miệng gãi mãi, xong mới nói được: Ngứa lắm! Sưng lên rồi đây này! Tôi thấy môi anh Then mọng cả lên vì ngứa. Anh Đệ lại đổ nước đi rồi đun tiếp. Chúng tôi đang định cố nhắm mắt chịu ngứa để ăn củ khoai dại cho cơn đói khỏi cồn cào thì bỗng nhiên có liên lạc của tiểu đoàn lên. Cậu ta ngồi phệt xuống chỗ gần bếp của anh Đệ rồi vừa thở vừa nói hổn hển:
- Báo cáo anh, tiểu đoàn có lệnh hành quân gấp! Toàn tiểu đoàn hành quân vượt vòng vây trong đêm nay. Những bộ phận kia đã có người đi báo và gọi điện cả rồi, bộ phận của anh 3 phút sau phải có mặt xuống đi sau bộ phận hậu cần của tiểu đoàn...
Anh Đệ đổ cái soong khoai dại đang bốc hơi ngùn ngụt, tôi lấy cái xẻng định xúc đất vùi những miếng khoai trên nóc hầm để sau này địch đến nó không nhìn thấy. Anh Đệ trừng mắt nhìn tôi rồi nói: Cất xẻng đi, cứ để đấy nếu khi mình đi rồi địch nó đến đây nó thấy thì cho nó biết rằng, các bố nó ăn những thứ này mà vẫn đánh nhau được với chúng nó gần hai tháng trời!
Qua một đêm hành quân xuyên qua vùng địch, sáng sớm hôm sau chúng tôi đã tập kết ở khu vực Lạt Puộc và chốt giữ đất xen kẽ với địch ở khu vực này. Nơi đây đã có nhà dân rải rác nhưng không có người ở. Những vạt ruộng lúa đã trĩu bông nhưng chưa chín hẳn, xung quanh có cả những mảnh vườn có sắn, có chuối, có bí ngô, đu đủ... Từ hôm ở Lạt Puộc, tuy thức ăn có nhiều nhưng chúng tôi cũng không được ăn uống đầy đủ vì lý do lúa ở đây chưa chín hẳn, mà địch ở đây rất đông, bộ đội mình toàn ở theo kiểu cài răng lược với nó. Vì vậy, ngày nào cũng xảy ra đụng độ với địch. Ra đây mới 4 hôm mà  trung đội anh Xôn đã bị hy sinh một lúc 8 người, trong đó có cả anh Dương Ngô Thắng ở Hà Bắc, anh Phán ở Khoái Châu-Hưng Yên, anh Sơn ở Hà Tây, anh Thim ở Hòa Bình, anh Bằng ở Cao Bằng… Sang ngày thứ 5 thì tiểu đoàn lại có lệnh hành quân tiếp, vì địch đã vào sát vị trí đóng quân của tiểu đoàn bộ rồi. Thế là chúng tôi lại vượt bãi lầy ở Cánh Đồng Chum và ra đến khu vực Phu Cút Nọi. Ra đây cũng không có dân, toàn nhà bỏ không nhưng dụng cụ gia đình vẫn còn để lại rất nhiều thứ trong những ngôi nhà sàn rải rác khu vực chân núi.
Ở đây địch thưa hẳn, Đại đội 11 của chúng tôi hoạt động địa bàn cũng rộng hơn nhiều so với ở trong kia. B8 của anh Thọ chốt trên đồi Xanh phía trước. B7 của anh Út chốt dưới chân Phu Phượng và chiếm giữ toàn bộ khu ruộng lúa chín từ chân đồi Phu Phượng đến tận phía trước cánh đồng gần Phu Cút Nọi. Còn B9 của anh Xôn chốt trên đỉnh Phu Cút Nọi và chiếm giữ toàn bộ khu ruộng lúa chín ngoài Cánh Đồng Chum. Tôi ở “xê bộ” với anh Hoàng Thật-Chính trị viên trưởng và cả anh Then-Chính trị viên phó đại đội. Bên trong Phu Cút Nọi, nơi cả một khu rừng sâu thăm thẳm là một bộ phận của “e bộ” có cả máy thông tin 15W.
Dạo này đã chuyển hẳn sang mùa khô nên địch cũng ít hung hăng. Về phía ta đã lác đác có bộ đội của Sư đoàn 312 và một số bộ phận đặc công của Sư đoàn 304, 305 nữa. Nghe đâu e148 cũng đang hành quân sang. Chúng tôi ở đây được gần một tháng nhưng cũng chỉ đánh nhau với địch có bốn lần, do bọn chúng tấn công lên đồi Xanh điểm chốt của anh Dương Ngô Thọ. Mấy hôm sau, chúng tôi được lệnh hành quân ra tuyến sau nơi giáp biên giới Nghệ An để nghỉ ngơi trong vòng 10 ngày và lại tiếp tục nhận thêm tân binh, toàn là học sinh cấp III của tỉnh Thái Bình, đứa nào nhìn mặt cũng non choẹt bọng sữa. Sau 10 ngày nghỉ ngơi đơn vị  chúng tôi được chỉnh đốn, quân số bây giờ đã có đến 6 người một tiểu đội và ít nhất là 4 người. Toàn bộ chúng tôi đều được trang bị quân trang đầy đủ toàn đồ mới. Mỗi người được 12 bánh lương khô 370 của Trung Quốc, lại còn đường, sữa, bột trứng ruốc mặn... gạo thì mỗi người đóng đầy căng cái bao ruột ngựa. Chỉ hai hôm sau, chúng tôi đã có mặt tại khu vực chân đồi Phu Lốc Cốc để chờ lệnh mở màn chiến dịch 139...
Kỳ : Giữ vững Khu Trăm Bản
Mồng Một Tết Canh Tuất năm 1970, đại đội cho anh em mỗi người được ăn một bánh lương khô ngoài tiêu chuẩn, sau khi nghe lệnh của đại đội tôi buồn cười nói với anh Hoàng Thật, Chính trị viên:
- Chúng nó không ăn hết nửa chỗ lương khô ấy rồi ư? Bây giờ thủ trưởng mới ra lệnh...
Đang nói chuyện thì cậu liên lạc của tiểu đoàn đến cắt ngang:
- Mời các thủ trưởng về tiểu đoàn hội ý và nhận lệnh gấp!
Lát sau thủ trưởng Thật và anh Hậu về thông báo:
- Phu Lốc Cốc hôm qua Sư đoàn 320 và đặc công 305 đánh đã hoàn toàn giải phóng, bây giờ trung đội 9 cho anh em lên tiếp quản và thu chiến lợi phẩm.
Mấy cậu lính trẻ hỏi:
- Thế đơn vị mình không phải đánh à?
- Đơn vị mình có việc khác, tối nay các cậu sẽ được nếm mùi đánh nhau.
Đêm Mồng Một Tết năm 1970, đại đội 11 của chúng tôi được lệnh đi đánh đồi Coongle. 20 giờ, chúng tôi bắt đầu hành quân. Khi ra đến đoạn đường to rải đá, có một tiểu đội trinh sát của trung đoàn và một chiếc xe tăng chờ sẵn ở đó. Thế là cuộc hành quân bắt đầu. Chiếc xe tăng không bật đèn, cái nòng súng dài chĩa thẳng về phía trước cứ lạnh lùng lăn xích lộc cộc trên con đường. Cả đại đội 11 nhăm nhăm súng trên tay đi sau chiếc xe tăng. Mấy cậu trinh sát đã đi trước cùng với đại đội phó Xót và tiểu đội 1 từ lúc nào đã biến trong đồng cỏ mênh mông cánh đồng Chum.
Mãi đến 2 giờ sáng, chúng tôi mới đến chân đồi Coongle. Chiếc xe tăng dừng lại, đội quân của đại đội 11 cũng dừng lại chờ đợi. Thỉnh thoảng những chiếc máy bay C130 bay qua rất cao và thả pháo sáng vu vơ. Những cành lá ngụy trang, những ngọn cỏ bên đường đang được sưởi bằng những hơi thở âm ấm của những chiến sĩ đại đội 11 trong đêm đầu xuân giá lạnh. Đến mờ sáng thì bộ phận của đại đội phó và tiểu đội trinh sát quay lại thông báo: Địch rút chạy từ lúc nào hết rồi! Trên đồi Coong Le không còn thằng nào cả. Bộ phận chỉ huy đang xúm lại thì thào bên chiếc xe tăng đầy lá ngụy trang trông như một lùm cây. Lát sau, chúng tôi được lệnh triển khai vào khu rừng tre lưa thưa cách đồi Coong Le khoảng hơn một cây số và cả ngày hôm ấy chỉ ăn có lương khô vì không được đốt lửa nấu cơm. Cũng từ đêm hôm ấy chúng tôi lại hành quân. Chỉ mấy ngày lại vào khu Trăm Bản, cùng với cả tiểu đoàn lùng sục truy tìm quân địch...
Chiến dịch 139 kết thúc, toàn bộ cánh đồng Chum giải phóng hoàn toàn. Đại đội 11 vẫn ở khu Trăm Bản, địa bàn hoạt động của đơn vị rất rộng. Các Trung đội cách nhau khoảng 4-5km. Cũng vào dịp này, ngày 19-4-1970, tôi được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Buổi lễ kết nạp hôm ấy diễn ra bên cạnh một gốc cây to trong khu rừng già trên triền núi. Lúc đó, chỉ có anh Then-Chính trị viên phó, Phó bí thư chi bộ đọc quyết định và anh Nguyễn Tiến Mậu, xạ thủ B41-tổ trưởng. Sau lễ kết nạp Đảng, anh Then kể chuyện: Lẽ ra đồng chí Vương được kết nạp Đảng năm ngoái cùng với Lường Văn Nghè, sau trận giải phóng Mường Sùi, nhưng vì cậu bị thương trong trận đánh Phu Xen Luông phải đi viện điều trị, mà nguyên tắc của Đảng ở chiến trường là sau khi đi viện về phải theo dõi thử thách thêm một năm nữa. Bây giờ chưa được một năm nhưng Đảng ủy vẫn chấp nhận hồ sơ cũ của cậu đã được chi bộ duyệt...
Mùa mưa năm 1970, Đại đội 11 của chúng tôi vẫn hoạt động ở khu Trăm Bản. Từ tháng 7-1970, chúng tôi lại triển khai chốt trên các điểm cao 1.800m, 1.700m và 1.600m. Các điểm cao này nằm xung quanh đỉnh cao 2000m do địch đóng giữ. Tôi cùng với Ban chỉ huy của đại đội và một trung đội cơ động ở triền đồi điểm cao 1.700m để thường xuyên yểm trợ cho 2 chốt ở điểm cao 1.700m và 1.600m. Hằng ngày, địch từ trên  điểm cao 2000m thường xuyên xuống gây sự, do vậy chốt 1.700m của đại đội 11 chúng tôi cũng thường xuyên phải đụng độ với địch. Nhất là từ cuối tháng 8, hôm nào địch cũng từ điểm cao 2000m mò mẫm theo triền đồi xuống điểm cao 1.700m của ta để đánh chiếm. Trận đầu tiên chúng không đánh bom xuống chốt mà cứ từ núi cao phóng lựu M79 xuống. Các chiến sĩ của ta chưa đánh trả mà báo về chỉ huy đại đội. Sau khi được tin địch tấn công kiểu ấy, đại đội trưởng Ngô Hậu cho một tiểu đội hỏa lực gồm khẩu ĐK 57mm là chiến lợi phẩm mấy hôm trước đi truy kích thu được và một khẩu B41. Tôi được đi theo tiểu đội này lên bổ sung cho chốt 1.700m. Chúng tôi bí mật tiếp cận dần nên khi vừa lên đến hết dốc anh Út đã phát hiện thấy bọn địch từ trên triền cao đang liên tiếp phóng đạn M79 xuống khu vực các chiến sĩ của ta, thế là khẩu ĐK57 được đặt ngay xuống bên cạnh một gốc cây to rồi oành oàng, oành oàng, oành oàng. Ba tiếng nổ liên tiếp như muốn vỡ cả không gian, phía triền đồi trên kia cứ lóe lửa rồi khói ngùn ngụt, tiếng của bọn địch kêu gào rồi câm bặt. Phía dưới khe, bọn địch cũng đang lóp ngóp định mò lên, thấy vậy cũng vội vàng bỏ chạy nhưng lại bị ăn mấy quả lựu đạn của Bối và Kiên.
Một hôm, lợi dụng sương mù buổi sáng sớm, Kiên và Bối đi tuần kiểm tra phía trước của điểm chốt. Khi đi hai cậu dặn Túc ở lại canh chốt rồi đi ra phía trước xuống sườn đồi, vừa đi vừa nhặt chiến lợi phẩm. Do ban đêm bị mưa và sáng sớm lại bị sương mù dày đặc nên quần áo của hai cậu ướt hết cả, dính vào người. Lúc đi hai cậu không đội mũ nhưng khi về lại đội mũ lưỡi trai của địch mới nhặt được, súng và đồ dùng của địch đeo đầy người. Túc ngồi canh chốt trong sương mù lờ mờ, thấy có tiếng động Túc để ý thấy rõ ràng hai tên địch đội mũ lưỡi trai dài ngoẵng, quần áo lại bó sát vào người như kiểu quần ống típ. Thế là không chần chừ gì nữa, Túc giương khẩu CKC ngắm và bắn luôn một phát. Bối đi sau lăn ra oằn oại, còn Kiên nằm xuống cố cất tiếng chửi mẹ cha thằng Túc bắn chúng ông rồi. Kiên quay lại thấy Bối đang nằm giãy giụa, máu ở lưng áo thủng phun ra cứ phè phè. Túc chạy xuống cùng Kiên dìu Bối mãi mới lên được chiến hào. Đại đội nhận được điện của Kiên từ chốt báo cáo cụ thể. Tôi và đại đội trưởng Ngô Hậu cùng vội vàng chạy lên. Anh Ngô Hậu có bộ râu hùm trông rất dữ. Vì thế khi chạy lên, dọc đường tôi phải dặn đi dặn lại anh phải cố làm ra vẻ bình thường, đừng quát tháo dữ dội thằng Túc sợ quá nó liều thì hại đấy anh ạ! Khi lên đến nơi, Kiên vẫn ngồi bên cạnh Bối. Bối nằm trên cái võng bạt máu đầm đìa lẫn nước và bùn do đêm qua mưa chiến hào ướt sũng. Kiên nói với tôi: Thằng Túc nó bắn xuyên qua ngực em rồi mới vào ngực thằng Bối. Tôi xem vết thương cho Kiên, một lỗ tròn xoe phía trong núm vú bên phải, không vào xương sườn. Ở phía sau cũng một lỗ tròn y như vậy, giáp xương bả vai phải và cũng không vào xương nào cả. Tôi dùng băng dính băng cho Kiên hai vết thương chỉ hơi rỉ máu và hỏi: Cậu có khó thở không? Em chẳng thấy gì cả, chỉ thấy đau ở chỗ ngực này với ở lưng thôi. Kỳ lạ thật! Tôi quay sang Bối. Tôi để Bối nằm nghiêng và lấy cả cuộn băng cá nhân bịt vào vết thương to hơn cái đầu đạn CKC nằm ngang ngay sau lưng phải của Bối vẫn đang trào máu ra theo nhịp thở rất thưa và nhẹ. Còn ở phía trước ngực cũng ở bên phải cạnh núm vú về phía trong ngực một vết thương vừa bằng viên đạn CKC nằm ngang. Vết thương vẫn đang rỉ máu nhưng ít hơn phía sau. Tôi băng cho Bối xong thì vừa lúc Bối nằm yên không còn thở nữa. Thật đắng cay cho C11, bao nhiêu ngày giao chiến với địch trên điểm cao 1.700m này không hề có thương vong, vậy mà sáng nay đi thu chiến lợi phẩm về lại bị đồng đội bắn nhầm. Thế là Đàm Văn Bối đã nằm lại vĩnh viễn trên sườn núi này. Tôi để Bối nằm bên cạnh lối mòn của chúng tôi đi ngay lưng chừng quả đồi. Bối ở đây nhá! Điểm cao này từ nay trở đi là của Bối đấy!
Từ hôm Bối hy sinh, chốt vẫn yên ả, cả đơn vị vẫn cứ sẵn sàng chờ đợi  nhưng không thấy địch đến tấn công. Ngày 8-9-1970 bầu trời cháng láng ánh nắng, những mảng mây trắng lưa thưa như những hoa bông trôi nổi trên bầu trời trong xanh, cao lồng lộng. Những tốp máy bay phản lực 105D vẫn thường xuyên quần đảo qua lại, nhưng chiều nay chúng cứ vòng đi vòng lại cùng chiếc OV10, cứ nghiêng ngó như đang dò xét khu vực gần đây. Tất cả những lùm cây trên quả đồi vừa đủ che kín những cửa hầm nho nhỏ có những ngách chữ T xuyên vào trong núi. Cả Ban chỉ huy đại đội 11 và trung đội 9 ở đây có gần 20 người thì 3 người ở trên đỉnh điểm cao 1.700m, còn lại 16 người vẫn giấu kín đội hình trong khu rừng trên triền đồi nhỏ này. Ở đây không ai làm lán mà phải ngủ đêm trong hầm hoặc mắc võng, riêng chỉ có Triệu Văn Then, Chính trị viên phó đại đội, quê ở xã Tân Trào-Tuyên Quang  là làm cái lán nho nhỏ, lụp xụp dưới lùm cây bên cạnh cửa hầm của tôi và cậu liên lạc, có những dây lá leo kín nhưng hàng ngày cậu liên lạc của đại đội vẫn lấy những cành lá nguỵ trang để che thêm vào...
Những chiếc máy bay phản lực khép vòng nhỏ dần. Tiếng o o của OV10 càng vội vã, cứ vòng lên vòng xuống. Còn thằng L19 thì ngó nghiêng như có vẻ  tinh hơn những bọn kia. Thằng Khánh ngồi ở cửa hầm bên kia, từ nãy nó vẫn nhìn tôi rồi lại nhìn bọn phi cơ trên bầu trời. Bây giờ thằng L19 bay quá thấp, tôi nhìn sang thằng Tô Đại Khánh, người Thái Bình, cũng đang ngồi ở cửa hầm của nó nhìn sang tôi và gọi thét lên: Anh Vương ơi! thằng phi công trên chiếc L19 mặt nó đỏ lắm anh Vương ạ! Em nhìn rõ lắm, ánh nắng soi vào buồng lái của nó lúc nó nghiêng về phía em thấy mặt nó đỏ trọi, hay là nó uống rượu say hả anh Vương?
Thằng Khánh vẫn núp sau gốc cây to nhìn theo chiếc máy bay L19, tôi không trả lời nó mà ra hiệu cho nó ngồi yên lặng sợ thằng L19 nó nhìn thấy. Lần này, thằng L19 vòng lại nó nghiêng cánh chúi xuống rồi đánh ục một tiếng nổ, khói trắng bốc lên từ khe suối cứ ngùn ngụt. Có tiếng quát rất to của đại đội trưởng Ngô Hậu: “Tất cả vào hầm trú ẩn, nó bắn đạn khói chỉ điểm rồi!”. Chúng tôi ngồi trong hầm chờ đợi cũng thấy rờn rợn. Sau những loạt bom, loạt rốc-két của máy bay phản lực, căn hầm của chúng tôi cứ chao đảo như đưa võng, cát bụi mù mịt, mùi khói lửa của thuốc đạn cứ khét lẹt. Đại đội trưởng Ngô Hậu ngồi  cạnh anh Then trong hầm nói nhỏ vẻ lo ngại:
- Không biết nó có tấn công chốt không?
Tiếng vè vè của thằng L19 vẫn đang vòng vèo trên bầu trời. Anh Ngô Hậu len ra ngoài cửa hầm thì vừa lúc anh em của B9 chạy đến len cả vào trong hầm của chúng tôi kêu:
- Hầm của chúng em sập hết cả rồi!
Tôi hỏi:
- Có đứa nào việc gì không?  Thằng Khánh đâu?
- Em vào đây rồi! Không ai việc gì anh ạ! Nhưng hầm của chúng em không thể nào ngồi được nữa. Nó sập hết cả chúng em mới chạy sang đây...
Anh Hậu cố len ra nhưng anh em ngoài cửa ngăn lại:
- Thủ trưởng đừng ra ngoài thằng L19 nó vẫn bay lượn thấp lắm!
- Để ta ra xem nó có tấn công chốt 1.700m không?
- Không đâu. Chúng em thấy trên chốt vẫn im ắng lắm. Nó chỉ đánh ở đây thôi, mà cái lán của thủ trưởng bị bay đi đâu rồi, cái tăng  màu xám của thủ trưởng lợp lán bay lên cành cây lộ hết rồi còn gì?
Mấy thằng đang kể vậy thì lại ục một tiếng. Quả đạn khói chỉ điểm của thằng L19 nổ ngay cửa hầm, khói trắng cứ đặc quánh mù mịt ùa cả vào hầm ngột ngạt, thế là chúng tôi lại chờ đợi loạt bom sắp tới. Máy bay phản lực nó đã đi hết cả rồi, bây giờ chỉ còn nghe tiếng của một chiếc T28 máy bay cánh quạt mà hồi đánh Pháp ở quê tôi thường gọi là tàu bay khu trục. Thằng T28 này đánh bom rất chính xác. Anh Ngô Hậu nói với mọi người trong hầm:     
- Nếu chúng mình còn nghe thấy tiếng bom nổ thì nghĩa là không việc gì!
Thằng Sơn cứu thương quê ở Ứng Hòa - Hà Tây nói chen vào:
- Nếu không thấy tiếng bom nổ tức là bom đã trúng hầm, vậy thì chúng mình chẳng còn biết gì nữa...
(Còn nữa)
Hồi ký của CCB ĐÀO HOA VƯƠNG
 

Nguồn tin: www.qdnd.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến chúng tôi thông qua

Do bạn bè giới thiệu

Do vô tình bạn tìm thấy

Do sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet

Phương thức khác

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng