14:15 EDT Thứ tư, 01/10/2014
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Khu Vực Đăng Bài

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 2


Hôm nayHôm nay : 9323

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 9339

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1507634

Kỷ niệm Cách Mạng Tháng 8 Và Quốc Khánh 2/9

Kỷ Niệm Ngày CM Tháng 8 Và Quốc Khánh 2/9

Trang nhất » Tin Tức » Phòng Truyền Thống

Hội đồng ngũ sư đoàn 316

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Chuyện về người anh hùng Điện Biên Phủ - Liệt sĩ Lê Văn Dỵ

Thứ hai - 02/09/2013 04:31
Chuyện về người anh hùng Điện Biên Phủ - Liệt sĩ Lê Văn Dỵ

Chuyện về người anh hùng Điện Biên Phủ - Liệt sĩ Lê Văn Dỵ

Một sự tình cờ, tôi đã gặp anh Lê Văn Hòa ở trụ sở Hội Hỗ trợ Gia đình liệt sĩ (GĐLS) Việt Nam tại L7/445 Đội Cấn – Hà Nội và được biết anh là con trai cả của người anh hùng Điện Biên Phủ năm xưa, liệt sĩ thời kỳ chống Mỹ: Lê Văn Dỵ. Và thế là câu chuyện về cuộc đời người anh hùng đó đã cuốn hút tôi theo lời kể của anh. Năng động, quyết đoán, dám làm dám chịu
Anh hùng, Liệt sĩ Lê Văn Dỵ, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 811, Tiểu đoàn 888, Trung đoàn 176, Đại đoàn 316 (nay là Trung đoàn 174, Sư đoàn 316) – là người đã được Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba và Chính ủy Chu Huy Mân trực tiếp giao nhiệm vụ chỉ huy C811 lên đồi C1 độc lập phòng ngự và tấn công tiêu diệt đồi C1 ở chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954.

Anh Lê Văn Hòa – con trai Anh hùng, Liệt sĩ Lê Văn Dỵ cho biết: Theo lời kể của nhiều bạn chiến đấu của cha tôi, trong đó có đồng chí Tô Thông, nguyên cán bộ tác chiến Tiểu đoàn 888, Đại đoàn 316 … và hiện đang là Phó trưởng Ban liên lạc Đại đoàn 316, tôi đã được biết đêm 30/4/1954, C811 của cha tôi đã mở cuộc tấn công quyết định lên trận địa địch. Ngay sau loạt đạn bắn áp chế của 2 khẩu sơn pháo ta đặt trên đồi D1 vừa ngừng, Đại đội trưởng Lê Văn Dỵ liền hô vang: “Các đồng chí tiến lên!” và chỉ sau 5 phút đã đánh chiếm được lô cốt Cột Cờ - vị trí quan trọng nhất của quân Pháp trên đồi C1. Và chỉ 40 phút sau, quân ta làm chủ hoàn toàn C1. Ngay sau khi nhận được tin chiến thắng đặc biệt quan trọng này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết sức khen ngợi và đã ký lệnh tặng thưởng tại trận cho C881 “Huân chương Quân công hạng Ba”.

Trận đánh thắng trên, có một sự kiện chỉ là người trong cuộc và có cương vị nhất định mới biết đến, đó là tính quyết đoán dám làm dám chịu dẫn đến trái lệnh cấp trên của Đại đội trưởng Lê Văn Dỵ. Sự kiện này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận như sau: “Đại đội 811 của ta đã có 20 ngày đêm phòng ngự tại C1, được lệnh rời khỏi trận địa 200m cho hỏa pháo chuẩn bị. Đại đội trưởng Lê Văn Dỵ thấy công sự đã được củng cố vững chắc đủ sức chịu đựng đạn pháo và tin vào sự chính xác của pháo binh ta, quyết định chỉ cho bộ phận dự bị lui về phía sau, toàn đơn vị vẫn bám trận địa để không lỡ thời cơ xung phong… Sơn pháo đặt trên đồi D1 nhằm từng hỏa điểm trên C1 bắn rất chính xác. Dứt tiếng pháo, Dỵ lập tức ra lệnh mở những hàng rào cự mã ngăn cách giữa ta và địch, đưa bộ đội xông lên phía Cột Cờ. Thủ pháo và lựu đạn của ta trùm lên trận địa địch, tiểu liên nổ ran… Chỉ sau 5 phút, ta đã chiếm được Cột Cờ… Quân địch ở C1 mất dần sức chiến đấu… Nửa đêm, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt…” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử”, NXBQĐND, Hà Nội – 2000, tr.370-373).


Đâu có giặc là ta cứ đi



Suốt cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ca khúc “ Hành quân xa” của cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã trở thành bài ca bất hủ, sống mãi cùng năm tháng, đem lại sức mạnh động viên lớn toàn quân, toàn dân quyết đánh, quyết thắng kẻ thù. Tuy nhiên, xuất xứ của bài hát này cũng như lời ca “Đời chúng ta – đâu có giặc là ta cứ đi” đã được thể hiện trong ca khúc là ít người biết đến.

Nhạc sĩ Đỗ Nhuận khi còn sống đã từng kể lại: “Trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, tôi và nhiều văn nghệ sĩ khác cùng hành quân với bộ đội tham gia chiến dịch. Vì phải giữ bí mật nên mỗi chặng đường đi đều phải giữ kín, vì vậy nhiều người thắc mắc không biết chặng đường tiếp theo sẽ đi đâu? Khi đó, một đồng chí bộ đội trong đoàn quân đã động viên mọi người: “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi!” Câu nói rất đơn giản, nhưng không ngờ lại có ý nghĩa cao xa và vô cùng sâu sắc, thể hiện ý chí cách mạng kiên cường của bộ đội ta. Ngay đêm đó, tôi đã ngồi viết bài hát “Hành quân xa” mà cảm hứng sáng tác chính là từ câu nói của anh bộ đội đó.

Và thế là, ngay hôm sau, lời bài hát “Hành quân xa” đã được cả đoàn quân cùng hát vang “Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi…”

Mãi sau này, qua nhà văn Hồ Phương, nhạc sĩ Đỗ Nhuận mới biết: Người đã nói câu nói khơi nguồn cảm hứng cho sáng tác ca khúc “Hành quân xa” của ông chính là  Đại đội trưởng Lê Văn Dỵ.

Thực tế đã cho thấy, cuộc đời của người đại đội trưởng đó đã diễn ra đúng như câu nói của ông “Đời chúng ta - đâu có giặc là ta cứ đi”. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình đã lập lại trên miền Bắc Việt Nam, nhưng ông chỉ hưởng cuộc sống đó cùng vợ con, gia đình một thời gian ngắn vì sau đó Lê Văn Dỵ đã lại tình nguyện chiến đấu tại chiến trường Lào làm nghĩa vụ quốc tế cao cả trong suốt 10 năm liên tục từ năm 1960 cho đến khi ông đã anh dũng hy sinh ngày 13/3/1970 tại mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Khi đó, ông chuẩn bị bước sang tuổi 44 đang còn độ rất sung sức trong cương vị một sĩ quan cao cấp của quân đội ta - Phó ban tác chiến Sư đoàn 316.

Sáng mãi danh hiệu Anh hùng

Danh hiệu cao quý mà Liệt sĩ, Đại úy Lê Văn Dỵ mới được công nhận như ngày nay đã được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký Quyết định số 873/QĐ-CTN ngày 8/7/2008 truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì đã lập thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Được biết thêm là, chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu bốn biển như vậy, song việc xét phong tặng danh hiệu Anh hùng cho các cá nhân cán bộ, chiến sĩ Điện Biên Phủ là rất chặt chẽ, nghiêm minh. Kể cả trường hợp liệt sĩ Lê Văn Dỵ mới được truy tặng, cho đến nay cả nước ta mới có 24 trường hợp đã được phong tặng danh hiệu cao quý đó. Tuy nhiên, như nhiều phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin, có được danh hiệu cao quý này là cả một quá trình vận hành không đơn giản do đồng đội của ông là các CCB trong Ban Liên lạc CCB Sư đoàn 316 tại Hà Nội cùng với gia đình ông đã tâm huyết, dày công tìm kiếm, tập hợp hồ sơ đề nghị lên Đảng, Nhà nước, Quân đội ta truy tặng cho ông danh hiệu cao quý đó mà nhẽ ra ông và vợ con gia đình ông đã xứng đáng được hưởng từ lâu. Trong tập hồ sơ đó (mà người viết bài này đã may mắn được anh Lê Văn Hòa – con trai anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ trao tặng một bộ bản sao photocopy) đã có đến hàng chục tư liệu, di vật, xác nhận rất quý hiếm từ các nhân chứng lịch sử đã cùng tham gia chiến đấu một thời với ông, trong đó có nhiều tướng lĩnh cao cấp của quân đội ta… Đặc biệt, thêm vào đó là có cả một di vật vô cùng quý giá của chính liệt sĩ Lê Văn Dỵ đã để lại cho vợ con, đó là bản thảo viết tay cuốn hồi ký “Đường tôi đi” cùng với một số bút tích khác của ông mà đến năm 2009 nhân  kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954 – 7.5.2009) đã được NXBQĐND cho ra mắt bạn đọc với tiêu đề “Đâu có giặc là ta cứ đi”. Được biết thêm, tập bản thảo viết tay cuốn hồi ký đó cùng một số bút tích, di vật khác của ông hiện đã được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và như thế là liệt sĩ Lê Văn Dỵ - người đại đội trưởng của chiến trường Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm xưa, người mà hơn 50 năm trước đây đã được nhà văn quân đội Hồ Phương ghi lại trong cuốn sách “Kể chuyện chiến sĩ Điện Biên” và sau này tiếp tục được nhắc lại trong không ít các bài báo, cuốn sách khác nữa, trong đó đặc biệt là cuốn hồi ký “Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử” như đã nêu trên… đã là những minh chứng sinh động về một con người, một cuộc đời của người anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ với câu nói “Đời chúng ta – đâu có giặc là ta cứ đi” đã và sẽ sống mãi theo năm tháng cùng với ca khúc bất hủ “Hành quân xa” của người nhạc sĩ cách mạng tài hoa Đỗ Nhuận.


Người chồng thủy chung, người cha mẫu mực. 

Để hoàn thành bài viết về tấm gương anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ mà trong quan niệm cá nhân, tôi coi rằng đó là một tấm gương sáng rất lớn, ngoài những lời tâm sự kể lại trực tiếp từ anh Lê Văn Hòa, tôi đã cố nghiền ngẫm, chắt lọc từ tập tư liệu hồ sơ rất quý những thông tin cơ bản nhất về cuộc đời chiến đấu, hy sinh anh dũng của anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ nghĩ rằng, đây chỉ là một bài viết rất nhỏ mong góp phần giúp bạn đọc, nhất là các bạn trẻ ngày nay hiểu biết thêm về truyền thống anh hùng xả thân vì nước của các thế hệ đàn anh đi trước và cũng là nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày 30/4 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt cũng là dịp kỷ niệm 57 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2011). Chính vì thế, tôi đã đề nghị anh Hòa cho tôi biết thêm về cuộc sống đời thường của cha anh – anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ. 

Anh Hòa đã cho biết, cha anh sinh năm 1926 (tuổi Bính Dần) trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Văn Quán, xã Đồng Tâm, huyện Yên Lãng, Vĩnh Phúc. Cả cuộc đời cha anh gần như suốt những năm tháng đã sống đều là cuộc đời người lính trận. Chỉ không đầy 6 năm hòa bình lập lại trên miền Bắc nước ta từ 1954 đến 1960, cha anh được sống thanh bình cùng vợ con nhưng chính ngay những năm tháng hạnh phúc nhất đó, ông cũng nhiều khi phải xa vợ con vì điều kiện công tác của  một sĩ quan quân đội. Vì thế, các tư liệu di vật để lại của ông, trong đó đặc biệt có cuốn hồi ký “Đường tôi đi” cùng một vài bút tích khác, trong đó đáng lưu ý có 4 bức thư cuối cùng ông đã gửi cho các con trước ngày hy sinh là đã phần nào cho thấy anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dị không chỉ là tấm gương sáng về tính trách nhiệm cao, đoàn kết thân ái với đồng chí, đồng đội; sự kiên trung với Đảng, với Quân đội, với nhân dân; sẵn sàng phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ Quốc tế cao cả; mà còn là tấm gương sáng về người chồng thủy chung, người cha mẫu mực đối với vợ, con. Đọc những dòng tâm sự, nhắn nhủ của ông trong những bức thư đó, ta thấy toát lên những tình cảm cao quý không chỉ với lý tưởng cách mạng mà ông đã phụng sự, theo đuổi mà còn ánh lên những tình cảm yêu thương đời thường rất nhân văn cao đẹp đối với vợ con. Trong đó, có thể dễ thấy, ông đã trông mong hy vọng rất nhiều vào sự ra sức phấn đấu học tập để sau này trở thành những công dân có ích cho xã hội, đất nước. Tuy nhiên, cũng dễ thấy, ông đã trông mong, hy vọng rất nhiều vào người con trai cả của ông – anh Lê Văn Hòa khi đó (1969-1970) mới chỉ  13-14 tuổi. Ông đã căn dặn anh là người con lớn nhất phải luôn gương mẫu mọi mặt để các em noi theo, phải cùng với mẹ thay ông để nuôi dạy các em khôn lớn… và riêng với anh, ông đã thổi vào tâm hồn thơ ấu của anh một ước mơ phấn đấu: “Hòa cố gắng học đi, sau này sẽ lái máy bay hoặc con tàu vũ trụ của Việt Nam để bảo vệ bầu trời của Tổ quốc ta và lên các vì sao để chinh phục vũ trụ nhé…” (Đâu có giặc là ta cứ đi, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Ban Liên lạc CCB Sư đoàn 316 tại Hà Nội - NXBQĐND, Hà Nội, 2009, tr.99).

Trăn trở của những người đang sống

Chính vì có một người chồng, người cha rất đỗi thương yêu và đáng tự hào như vậy và thêm nữa nhờ có đức cần mẫn, hy sinh vì chồng con của bà Hoàng Thị Hừu (nay đã ở tuổi “cổ lai hy”) đã tần tảo cả đời thay chổng nuôi dạy con cái nên ngày nay cả 5 người con (1 trai, 4 gái) của anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ đều đã khôn lớn, trưởng thành trong nhiều cương vị xã hội khác nhau. Riêng anh Lê Văn Hòa sau nhiều năm tháng phục vụ trong các ngành quân đội, công an…, hiện giờ, anh đang là một công chức - chuyên viên cao cấp bậc 4 của Văn phòng Trung ương Đảng.

Càng phấn khởi, tự hào bao nhiêu vì đã có một người chồng, người cha mẫu mực đáng kính như anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ, giờ đây trong tâm khảm của bà Hoàng Thị Hừu và các con cháu, nhất là trong cương vị trưởng nam của gia đình, anh Lê Văn Hòa vẫn luôn mang trong người một sự đau đáu trăn trở và day dứt vì cả gia đình anh và cả bạn hữu đồng đội liệt sĩ Lê Văn Dỵ nhiều năm qua mặc dù đã cố gắng đi tìm nhiều lần tại Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng của nước bạn Lào, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả về hài cốt, mộ chí của cha anh. Vì lẽ đó, anh đã đến trụ sở Hội Hỗ trợ GĐLS Việt Nam, trực tiếp gặp Trung tướng Lê Văn Hân – Chủ tịch Hội để đề nghị được sự hỗ trợ của Hội trong việc thực hiện nguyện vọng đó. Như có “duyên kỳ ngộ”, những tâm sự của anh cùng với tập tư liệu hồ sơ hàng trăm trang, trong đó có cả cuốn sách “Đâu có giặc là ta cứ đi” đã cuốn hút tôi tìm hiểu thông tin để cố gắng hoàn thành bài viết này kịp vào thời điểm cả nước ta kỷ niệm 57 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, trước là thành kính như một nén nhang thơm dâng lên anh linh anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ, sau là xin được chia sẻ cùng anh Hòa và gia đình anh cả niềm tự hào, vinh quang và những nỗi đau, nỗi trăn trở về cha anh – Người anh hùng liệt sĩ mà từ nay cùng với gia đình, đồng đội của ông, những thành viên của Hội Hỗ trợ GĐLS Việt Nam đều có chung tâm nguyện là sẽ cùng nỗ lực tìm kiếm hài cốt, mộ chí của ông, mong rằng sớm thành công./. 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
nguyen thi Thủy - 24/05/2014 21:37
Toi rat kham phuc tam guong hy sinh cua anh hung Le van Dy. Moi lan vao bao tang ĐBP toi luon kinh can truoc anh cua ong. Cau mon cho linh hon cua ong luon thanh than.
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến chúng tôi thông qua

Do bạn bè giới thiệu

Do vô tình bạn tìm thấy

Do sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet

Phương thức khác