12:55 ICT Thứ bảy, 26/05/2018
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Khu Vực Đăng Bài

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 16


Hôm nayHôm nay : 1647

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 39988

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7934628

Kỷ Niệm Ngày 30-4

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Trang nhất » Tin Tức » Phòng Truyền Thống

Trang webs của hội cựu chiến binh quân y Sư Đoàn 36

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (Phần 1)

Thứ hai - 02/09/2013 15:38
Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (Phần 1)

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (Phần 1)

Để tiếp tục giới thiệu đến quý vị và các đồng chí những trang vàng truyền thống của sư đoàn 316 chúng ta, tôi xin đăng một loại các bài viết của Trung tướng, PGS, Tiến sĩ Nguyễn Hải Bằng – một trong những cán bộ trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 316 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Sau khi hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt đánh trận mở màn Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 tiếp tục phát triển chiến đấu tham gia giải phóng nhiều địa phương. Đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sư đoàn 316 được giao nhiệm vụ giam chân, tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, Liên đoàn biệt động quân 23… tạo điều kiện cho đơn vị bạn mở cánh cửa thép trên hướng Tây Bắc Sài Gòn…

Bài 1: Chuẩn bị cho trận chiến đấu mới

Sau thắng lợi to lớn của Chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đòn hiểm Buôn Ma Thuột là chìa khóa mở cửa, ngày 23-3-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta nhận định: “Trên thực tế, với Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, cuộc tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu”… và “Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này”.

Quyết tâm của Bộ Chính trị là tập trung sức mạnh cả nước nhằm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản đó trước mắt là tiến hành giải phóng Huế - Đà Nẵng, tiêu diệt Quân khu I ngụy, không cho địch kịp co về giữ Sài Gòn, nhanh chóng giải phóng các tỉnh miền Trung và Nam Trung bộ. Đồng thời đẩy mạnh mọi mặt công tác chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn.

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chuyển khối chủ lực của Tây Nguyên thành Quân đoàn 3 để tăng thêm thành phần trong khối chủ lực cơ động chiến lược.

Ngày 27-3-1975, trong buổi họp với Bộ tư lệnh Tây Nguyên, theo quyết định của Bộ Chính trị, đồng chí Văn Tiến Dũng công bố quyết định thành lập Quân đoàn 3 gồm các sư đoàn bộ binh 316, 10, 320 và các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng trực thuộc. Đồng chí Vũ Lăng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn; Chính ủy là đồng chí Đặng Vũ Hiệp; các đồng chí Nguyễn Năng và Kim Tuấn - Phó tư lệnh; Phó chính ủy là đồng chí Phi Triệu Hàm…

Quân đoàn 3 ra đời giữa lúc cuộc chiến tranh giải phóng đang đi vào bước ngoặt lịch sử quyết định. Việc thành lập Quân đoàn 3 trong lúc cuộc tiến công đang phát triển đánh dấu một nét rất mới là ta càng đánh càng mạnh, trong quá trình chiến dịch cũng như trong quá trình cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Bộ đội Tây Nguyên lúc đầu chỉ là những đơn vị trung đoàn, sư đoàn. Sau chưa đầy một tháng chiến đấu đã tổ chức thành quân đoàn mạnh với đầy đủ các binh chủng kỹ thuật.

Ngày 1-4-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm: “…Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975, không thể chậm..”.

Sau trận mở màn Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 được lệnh gấp rút chuẩn bị mọi mặt để tiến quân vào chiến trường Nam bộ. Cán bộ, chiến sĩ vừa chuẩn bị cho tác chiến sắp tới vừa tiến hành công tác dân vận vùng mới giải phóng. Truyền thống làm công tác vận động quần chúng vùng mới giải phóng trước đây trong các Chiến dịch Biên giới 1950, Địch hậu 1951, Tây Bắc 1952, Điện Biên Phủ 1954… và các chiến dịch trên chiến trường nước bạn được phát huy. Hằng ngày, từng tổ công tác đi vào các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số, các “ấp chiến lược” đồng bào di cư để tiến hành giải thích chính sách của Đảng, giúp địa phương xây dựng chính quyền mới ở cơ sở và giữ gìn trật tự trị an để nhân dân ổn định cuộc sống, đi vào sản xuất.

Cũng trong lúc này, hàng trăm thương bệnh binh nhẹ ở bệnh viện sư đoàn và quân đoàn lần lượt được trở lại các đơn vị chiến đấu. Về chuyện này tôi nhớ: Sau giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, rất nhiều thương bệnh binh nhẹ đều nằm lại điều trị tại đơn vị và bệnh xá sư đoàn. Quyết không rời chiến trường nên anh em không chịu đi quân y viện của mặt trận điều trị. Nếu để anh em ở lại đơn vị dưỡng thương thì sư đoàn không có tiêu chuẩn gì bồi dưỡng… Ban chỉ huy Sư đoàn 316 đã có ý định dùng số tiền ta thu được trong ngân hàng và các công sở của địch ở thị xã Buôn Ma Thuột để mua thực phẩm cho thương bệnh binh ăn thêm. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, phải báo cáo lên Bộ tư lệnh mặt trận để khỏi mang tiếng là tùy tiện sử dụng chiến lợi phẩm. Rất may hôm đồng chí Văn Tiến Dũng đến thăm sư đoàn và khảo sát trận đánh Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy tại thực địa, tôi đã báo cáo việc này và xin phép được sử dụng tiền chiến lợi phẩm để mua thực phẩm bồi dưỡng cho thương bệnh binh. Đồng chí Văn Tiến Dũng đồng ý ngay và cũng phê bình khéo chúng tôi là không linh hoạt giải quyết sớm…

*

*   *

Công tác chấn chỉnh tổ chức, bổ sung biên chế của sư đoàn được tiến hành hết sức khẩn trương. Về quân số, sư đoàn có 1 tiểu đoàn khoảng 800 chiến sĩ dự trữ cùng hành quân với sư đoàn vào Nam, để bổ sung trong quá trình chiến đấu. Vì vậy quân số vẫn đầy đủ, không có gì đáng ngại.

Về tổ chức trang bị, sư đoàn đã có những sáng tạo đáng ghi nhớ. Thứ nhất, số phương tiện xe bọc thép, pháo, cơ giới thu của địch được biên chế ngay vào lực lượng chiến đấu sắp tới. Đạn pháo 105mm của địch rất nhiều, trong khi đạn pháo 122mm của ta lại rất hiếm do vận chuyển vào không kịp. Sư đoàn chủ trương cho thay thế toàn bộ pháo 122mm ở miền Bắc đưa vào bằng pháo 105mm của Mỹ để tiện sử dụng số đạn sẵn thu được của địch. Sau này, trên đường hành quân vào miền Đông Nam bộ, nơi nào có đồn bốt địch, anh em hậu cần sư đoàn đều sục vào thu gom đạn pháo địch còn sót lại. Tuy nhiên, muốn chuyển đổi từ pháo 122mm sang pháo 105mm như vậy phải tiến hành huấn luyện bổ sung gấp để anh em nhanh chóng biết sử dụng vũ khí mới, theo phương pháp mới. Chuyện này được chúng tôi giải quyết không mấy khó khăn mà hiệu quả đạt được rất tốt.

Thứ hai, với số xe thiết giáp mới thu được của địch, sư đoàn thành lập ngay một tiểu đoàn xe bọc thép với 18 chiếc M113, dùng làm lực lượng đột kích trong trường hợp trên không tăng cường xe tăng. Nói chung các xạ thủ sử dụng súng trên xe thì không thiếu nhưng người lái hơi hiếm. Sư đoàn đã cùng chính quyền địa phương huy động số lái xe là công nhân máy kéo trong các đồn điền cao su quanh khu vực và sử dụng ngay một số lính lái xe tăng - thiết giáp của quân ngụy trước đây, nay tình nguyện tham gia quân đội. Anh em được huấn luyện bổ túc để có thể điều khiển thành thạo xe trong chiến đấu. Tiểu đoàn xe thiết giáp này đã phát huy tác dụng tốt trong thời gian tiến công Sư đoàn 25 ngụy tại Trảng Bàng, Đồng Dù… trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Để có đủ phương tiện vận chuyển lực lượng nhanh chóng cơ động vào chiến trường mới, chúng tôi đã liên hệ với Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột huy động hơn 100 xe tải, xe ca của nhân dân, xe chiến lợi phẩm để chuyên chở bộ đội vào Đông Nam bộ, kịp thời làm nhiệm vụ tác chiến.

Đi đôi với chuẩn bị vật chất kỹ thuật, huấn luyện bổ sung, từ rút kinh nghiệm trận đánh Buôn Ma Thuột, sư đoàn còn tiến hành giáo dục chính trị cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trước thời cơ chiến lược mới để động viên khí thế chiến thắng và vận động mọi người sẵn sàng bước vào chiến đấu trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trước nhiệm vụ tuy nặng nề nhưng vô cùng vinh quang của những trận đánh cuối cùng sắp tới, tinh thần ấy cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 hăm hở và phấn khởi chưa từng có.

*

*   *

Đầu tháng 4-1975, tôi nhận lệnh của Sở chỉ huy tiền phương Bộ tổng tư lệnh Mặt trận lúc này đã chuyển vào miền Đông Nam bộ, tổ chức đoàn cán bộ của sư đoàn đi chuẩn bị chiến trường tham gia chiến dịch mới. Sau khi đánh Buôn Ma Thuột, anh Đàm Văn Ngụy - Sư đoàn trưởng bị bệnh, sức khỏe giảm sút nhiều. Có lẽ trên muốn đưa anh đi chữa bệnh nên chỉ định đích danh tôi (Sư đoàn phó) phải chuẩn bị đi trước.

Anh Nguyễn Năng - Phó tư lệnh Quân đoàn 3 cùng tôi đến Sở chỉ huy tiền phương Bộ để nhận nhiệm vụ. Khi đi tôi đã hình dung ngay nhiệm vụ sắp tới của sư đoàn mình là tham gia giải phóng Sài Gòn.

Ngồi trên chiếc xe lắc lư trong đêm, với tâm trạng rất phấn khởi, phần vì được tham gia nhiệm vụ rất đặc biệt, vẻ vang hơn nhiều lần giải phóng Buôn Ma Thuột, phần vì được trở lại chiến trường đánh Mỹ quen thuộc mà tôi mới xa khoảng hơn một năm. Bất giác tôi hình dung lại một thời.

 … Từ tháng 10 năm 1964, tôi đã chiến đấu suốt mười năm trên mảnh đất thân yêu và rất nhạy cảm của miền Nam anh hùng, bất khuất đi trước về sau này. Khi ấy tôi mới ở tuổi ngoài 30, trong đoàn cán bộ miền Bắc bổ sung để xây dựng bộ đội chủ lực cho chiến trường miền Nam. Từ tham gia chiến dịch Đồng Xoài tới khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Đông Nam bộ, đến các chiến dịch đánh Mỹ liên tiếp mở ra: Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Chiến khu C, Chiến khu D... Qua chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty (Junction City) của quân đội Mỹ nhằm đánh vào căn cứ Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền (năm 1967) cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Rồi các chiến dịch trên đường 13 - “Con đường máu và nước mắt” mà quân Mỹ đã cay đắng đặt tên. Biết bao trận đánh ác liệt giữa Sư đoàn bộ binh 7 chủ lực Miền - Sư đoàn thân yêu cũ của tôi, chọi với Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” của Mỹ - sư đoàn mà chúng luôn tự hào là được thành lập đầu tiên của quân đội Mỹ (từ năm 1917).

Ngày 13 tháng 9 năm 1967, chính đại đội súng máy cao xạ của Sư đoàn 7 đã bắn rơi chiếc trực thăng chở tên Trung tướng Két-U-Oe (Ket uoe) – Tư lệnh Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” ấy, khi hắn đang đốc thúc quân lính đi giải tỏa đường 13 bị Sư đoàn 7 của ta băm nát từng đoạn. Két-u-oe chết làm náo động cả Sài Gòn và nước Mỹ. Có kẻ tin vào số mệnh cho rằng: Phải chăng viên Trung tướng 3 sao này chết vì khắc tinh của hắn là sự kết hợp 3 con số 13 xúi quẩy: “13 giờ ngày 13 trên đường số 13”. Nhiều người khác - và cả riêng tôi - thì lại nghĩ là chẳng phải thế. Trong chiến tranh bất cứ điều gì bất ngờ cũng có thể xảy ra.

Cũng tại nơi đây chúng tôi đã nhiều lần chạm trán với Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 Mỹ mang tên “Tia chớp nhiệt đới”; rồi lại với Lữ đoàn dù 173 mà quân Mỹ vẫn huênh hoang là lữ đoàn nổi tiếng đánh thắng trên chiến trường Triều Tiên. Tiếp theo đó là cuộc chiến với Sư đoàn không vận số 1 - con đẻ của “Bộ óc điện tử” Mắc Na-ma-ra (Mac Namara),  nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn (Lyndon Johnson)… và những sư đoàn bộ binh 5, 18, 25 của quân ngụy… Biết bao đợt bom rải thảm của B52, của chất độc da cam làm xơ xác những cánh rừng bạt ngàn miền Đông “gian lao mà anh dũng”. Biết bao đồng đội của tôi được bổ sung cho chiến trường miền Nam ngày ấy, nay đã vĩnh viễn yên nghỉ trên mảnh đất thương yêu này… Thế rồi tôi đã thiếp đi trên xe trong giấc ngủ chập chờn nhưng đầy kỷ niệm.

*

*      *

Sáng hôm sau chúng tôi đến thị xã Phước Long, nơi Sư đoàn 7 cũ của tôi mới giải phóng cách đây mấy tháng. Gặp lại một số cán bộ cũ, tôi hỏi về tình hình tiến công thị xã Phước Long, tranh thủ đi xem một số nơi để rút kinh nghiệm. Ngày hôm sau, lợi dụng thời tiết sương mù, ít máy bay hoạt động, tôi cho bộ đội ngụy trang xe, hành quân ban ngày. Đến chiều thì gặp đoàn cán bộ hậu cần do anh Ba Vinh (tức Huỳnh Thanh Ngân) - Phó tư lệnh Quân đoàn 4 ra đón. Tôi quen anh Ba Vinh từ hồi anh còn làm Cục phó Cục Hậu cần Miền. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, anh Ba Vinh cho biết: “Nhiệm vụ của mình là đón Sư đoàn 316 vào chiến trường Đông Nam bộ để bổ sung vật chất”.

… Theo kế hoạch trước đây, sau giải phóng Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 sẽ bổ sung cho chiến trường miền Đông Nam bộ. Sợ anh Ba Vinh lầm tưởng tôi có nhiệm vụ bổ sung cho miền Đông nên tôi nói và hỏi để rõ thêm:

- Hiện tại Sư đoàn 316 thuộc biên chế của Quân đoàn 3, vào tham gia chiến đấu trong này liệu có phải là đối tượng để anh giải quyết cung cấp không?

Anh Ba Vinh vui vẻ cho biết:

- Bất cứ đơn vị nào được lệnh tăng cường chiến đấu cho giải phóng Sài Gòn thì anh đều có nhiệm vụ cung cấp vật chất cả.

Tôi thông báo với anh:

- Trước mắt, chỉ cần hai khoản là tiền mặt và xăng dầu giải quyết cho hơn một trăm xe của dân đã huy động để chở quân.

Theo ý tôi, anh Dương Văn Thí - Chủ nhiệm Hậu cần sư đoàn làm ngay dự trù xin tiền và xăng dầu nộp anh Ba Vinh. Xem bản dự trù anh Thí làm, tôi hơi ngạc nhiên vì số lượng tăng khá nhiều so với yêu cầu. Tôi thầm biết mục đích anh Thí làm như vậy để trừ hao, trên duyệt bớt đi là vừa. Anh Ba Vinh xem xong dự trù, nói vui: “Hình như các ông yêu cầu quá nhiều, có thể gấp đôi đấy! Nhưng thôi được, ưu tiên quân chủ lực dự bị chiến lược của nhân dân miền Bắc gửi vào giải phóng Sài Gòn”. Nói xong anh cầm bút ký duyệt ngay, không hề bớt.
 

Trung tướng, PGS, Tiến sĩ Nguyễn Hải Bằng

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến chúng tôi thông qua

Do bạn bè giới thiệu

Do vô tình bạn tìm thấy

Do sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet

Phương thức khác

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng