22:14 EDT Thứ ba, 17/10/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 114


Hôm nayHôm nay : 2267

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 32729

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7545189

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Trang nhất » Trang Văn Nghệ » Trang Văn Xuôi

Tinh thần ngày cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9 bất diệt

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Bắt vợ

Chủ nhật - 03/11/2013 21:46
Bắt vợ

Bắt vợ

Phải hơn một con trăng, Người Nài mới tìm về được nơi Pơtao đã dặn. Đó là một thung lũng rộng, cây cỏ tốt tươi, có sườn núi dựng đứng bao quanh, có dòng Đak Ang hòa nước vào Đak Pô Kô, có ngã ba đường tỏa đi các hướng.
Chính tại đây, trên đường tháo lui, phần lớn chiến binh và người nhà các bộ tướng, trong đó có cả vợ con Pơtao đã dừng lại để nghỉ ngơi.
Vốn quen với tập quán sinh sống trên thế đất cao, nhưng thấy đây là vị trí hiểm yếu thuận lợi cho việc cố thủ, hơn thế, sản vật trên rừng dưới suối lại khá dồi dào, có thể trụ lại được. Giữa lúc Pơtao còn đang cùng các bộ tướng và các già làng bàn định dự tính ấy, giữa lúc ai cũng muốn tranh thủ chợp mắt nhưng mắt chưa kịp nhắm đã vội mở thật to: Giặc Xila đang tràn tới. Lực lượng quá mỏng, lại chưa kịp phòng bị, trong lúc giặc chủ động với quân tướng quá đông, thất bại là điều không tránh khỏi. Pơtao và những người sống sót chỉ còn biết chạy dài…
Người Nài thẫn thờ ngồi xuống giữa vùng đất đã nhuốm máu tang thương.
Lát sau, ông mở cái túi da trâu mang theo lấy ra nhúm muối ớt gói trong lá, một phần con sóc đã nướng và một ống cơm. Ông đã xin được những thứ này của những người cùng bộ tộc mình đang bồng bế dắt díu nhau trốn chạy khi nghe tin đội quân của Pơtao tan vỡ. Ông chỉ biết vỗ về mọi người cố vượt khó bằng lời trấn an rằng: Pơtao vẫn còn, quân lính vẫn còn, nhất định sẽ đến ngày… sẽ có ngày…, rồi ông đi.
Ông đi để cố giấu nước mắt đã ngập tròng.
Khi đã rời khá xa dốc Măng Rơi, nơi bên Pơtao còn rất ít chiến binh giữa ầm ào giặc dữ, Người Nài mở gói di vật ra xem. Ông chợt rụng rời khi thấy phần đầu mũi tên do Pơtao tự tay rút từ ngực mình ra và cẩn thận trao gửi cho ông đã chuyển màu mốc đen cứt chuột. Tên tẩm độc!
Nơi đây, mọi chiến binh đều không lạ gì cách làm những mũi tên độc đó. Người ta lấy da, gan và trứng của con cóc và trộn chúng cùng bột hạt mã tiền, sau đó bỏ tất cả vào ống lồ ô, rồi đem dựng bên cửa ra vào. Sáng sáng ngủ dậy, người ta nhổ miếng nước bọt đầu tiên vào đấy. Những cây tên bằng tre già vót nhọn được cắm vào cái ống ấy. Những mũi tên đó có thể lập tức hạ gục bất cứ đối thủ nào.
Người Nài khóc rống lên, vò đầu bứt tai vật vã giữa rừng. Làm sao Pơtao có thể sống được? Tại sao ta không lấy ngực mình để che đỡ? Tại sao Pơtao lại giành quyền tự điều khiển voi mà buộc ta phải thoát đi lúc đó? Tại sao? Tại sao, Yang ơi?!
Pơtao hẳn đã chết rồi. Bộ tộc này sẽ đi về đâu?
Người Nài vẫn đi, vẫn phải đi. Đi để thực hiện ý nguyện của Pơtao. Nhưng những bước chân sao cứ dại đi…
Nghỉ đã khá lâu, Người Nài khó nhọc đứng lên. Ông bắt đầu sục sạo khắp các bờ bụi dọc theo sườn núi bọc quanh thung lũng này để tìm…
Chớm vào mùa mưa, trời đang ì oạp như hắng giọng ở phía xa. Mây từ các đỉnh núi đang truồi dần xuống. Mới sáng chưa được bao lâu mà đã chẳng còn thấy mặt trời. Nếu không có giặc, giờ này nương rẫy đều đã phát đốt gần xong. Người Nài chợt như ngửi thấy mùi rẫy mới, mùi thơm nồng của đủ loại lá rừng bị đốt cháy xộc vào mũi; nhớ cha mẹ anh em với những hàm răng trắng lóa trên gương mặt nhôm nhoam tro bụi khi cười; nhớ vị dẻo thơm như mật của những can rượu ghè trong đêm lễ vào mùa; nhớ… Nhớ nhiều quá, nhớ đến chẳng muốn đi, nhớ đến muốn vọt lồng lên. Nhưng, cảnh cũ đâu, người xưa ơi, biết bao giờ gặp lại?..
Người Nài chợt nghiêng tai. Tiếng vó ngựa, tiếng lạch cạch xe lăn, tiếng xì tà xì tồ lạ tai đang vọng tới. Tiếng giặc Xila!
Vừa sụp xuống để núp, Người Nài lại muốn vùng tới lao vào đám giặc để trả thù cho bộ tộc, trả thù cho Pơtao… Nhưng ông đành phải nén lòng chờ cho tiếng chuyển quân của giặc dần xa. Đưa tay vén những nhành cây che mắt, ông lại đạp trên cỏ, trên đá, trên gai dấn bước.
Khi đã gần kiệt sức, vừa đi vừa lết, Người Nài chợt nghe… chợt nghe…  Tiếng giành ăn của vượn à?
Hay tiếng đòi sữa của bầy heo con?
Không… Tiếng khóc. Tiếng khóc của người. Tiếng khóc của trẻ con. Trẻ con mới đẻ? Yang ơi!...
Người Nài bật ào lên, tíu tít mừng vui, hầu như vẻ mệt mỏi của ông đã không còn nữa. Ở đâu? Người Nài dừng phắt, lại nghiêng tai, rồi xăm xăm vọt tới.
Chòi ở cữ, dù là của ai, theo tập tục đều phải ở cách buôn làng chừng dăm bảy lần quăng rựa. Chòi được làm bởi những người đàn bà là chị em với người ở cữ và cũng chỉ những người đó cùng bà đỡ mới có quyền lui tới đỡ đẻ, thăm nom. Chòi ở cữ của vợ Pơtao, chắc chắn chỉ tự mình bà dựng. Mấy cái cọc vẹo xiêu, vài đọt le chặt nửa ngả ngang từ những bụi mọc gần, phủ bên trên là mấy tấm lá chuối đã khô và một số lá cành đủ loại. Cái chòi ấy chống chếnh đung đưa nhỏ nhoi khuất nép hệt chiếc lá giữa rừng. Người Nài vui sướng như muốn reo lên: Nếu không có tiếng trẻ con khóc ré lên như điềm Yang báo kia, làm sao ta biết được?!
Quỳ xuống, Người Nài cẩn thận nhấc cái sinh linh đỏ hỏn ra khỏi vạt váy bết máu bầm đen và ôm riết nó vào lòng, để mặc nước mắt chảy thành dòng trước bà chủ đã lạnh cứng.
Thằng bé cựa mình, vặn vẹo. Người Nài giật mình nhớ ra, vội vàng gỡ bỏ vòng nhau đang quấn quanh cổ nó. Lập tức, tiếng khóc như được sổ lồng vọng vang dữ dội.
Khóc đã, thằng bé rúc rúc tìm vú mẹ trên ngực của Người Nài. Người Nài chợt lặng người. Ông nhận ra mình đang phải đối mặt với một tình thế khó khăn: Tìm đâu ra sữa cho thằng bé bây giờ?! Ông áp mặt vào nó, bồng đưa nhè nhẹ. Thằng bé vẫn khóc như thét.
Đang giống gà mắc tóc, Người Nài đột ngột đứng im. Ông chầm chậm quay xuống, mắt đăm đăm nhìn bà chủ. Sắc mặt ấy đã bợt bạt xa vời. Người Nài vẫn lặng phắt trân trân, nhưng hai chân mỗi lúc một rung, một chùng xuống. Rồi vừa lâm râm khấn Yang, khấn vong linh người chết, ông vừa bồng thằng bé dàm dạm nhích tới. Cẩn trọng ngồi xuống, một tay Người Nài run run phủi nhẹ bụi đất đang bám trên ngực bà chủ. Rồi ông bóp nhẹ bầu vú vẫn đang cương cứng nhưng đã lạnh tê. Thật bất ngờ, một tia sữa phọt xối lên mặt ông.
Trong lúc thằng bé như đang bơi và nuốt sữa ừng ực trên ngực mẹ thì sữa cũng vằn vện hòa cùng nước mắt chảy xuôi trên mặt Người Nài.
Thằng bé đã no. Nó nhả vú ngủ quây trên ngực mẹ lúc nào không hay.
Chợt, Người Nài giật mình, lặng ngó trân trân: Cả hai khuôn mặt vợ con Pơtao đều đã giãn ra an nhiên thỏa nguyện. Toàn thân Người Nài run lên. Yang ơi! Đẹp quá! Lạ kỳ quá!...
Người Nài cứ lẩm bẩm thế, như đột nhiên quên hết biết bao tai ương chết chóc đã qua và tất cả hoạn nạn hiểm nguy sắp đến.
Mãi sau, Người Nài nhè nhẹ đứng lên. Ông lùi ra kiếm cành cây hù xua một con báo nhỡ đang ngồi nhìn vào. Mấy con chồn lảng vảng phía sau cũng miễn cưỡng né đi. Đợi chúng lùi xa, ông chặt một cây le già, phạt vát thành cái thuổng để tạo chốn an lành cho bà chủ.

                                                                                  ******
Thằng bé khóc đã lâu, nhưng Người Nài đành để mặc nó nằm trong tấm zdồ treo trên cành cây cao ở khá xa.
Khi địu thằng bé luồn rừng qua đây, mặt ông vướng phải lũ ong đang vo ve loạn xạ này. Xem xét hồi lâu, ông quyết định dừng lại. Dùng mật ong làm sữa cũng tốt lắm chứ. Lũ ong nhỏ hơn con ruồi và lớn hơn con muỗi đang bu kín người kín tóc ông là ong zdú. Lũ này ngoan hiền nhất trong các loại ong bởi hầu như không đốt, và nếu có đốt cũng không đau lắm. Chúng thường làm tổ trong các bọng cây qua những đường hang chỉ xuyên vừa mũi tên.
Tổ ong này khá lớn. Sau khi dò dẫm mắt tìm tay gõ và áp tai nghe thử nhiều chỗ quanh thân cây, Người Nài hăm hở dùng rựa chặt phá lớp vỏ cây. Một loáng, hương mật ong đã dâng thơm lựng. Rồi dòng mật vàng pha sắc xanh đã rỉ ra dẻo quánh. Người Nài lúng túng vì chưa chuẩn bị cái gì hứng mật. Đúng lúc đó, thằng bé lại khóc thét lên. Tiếng khóc đòi ăn của nó càng vang to giữa rừng tĩnh mịch. Thương quá, Người Nài cũng chỉ biết lẩm bẩm: “Nín, con ơi. Một chút nữa thôi…”
Ông ngã xấp ngã ngửa vì vội đi tìm đồ đựng mật. Lúc vác mấy ống lồ ô về, mật ong đã đọng thành vũng dưới đất. May mà nó vẫn còn đang chảy kia. Ông vội ghé miệng ống vào và phá phần lộ của tổ ong rộng thêm ra. Mật xối xuống mạnh hơn thành dòng lóng lánh và hương nồng dẻo quẹo. Ống này đầy, ông lại thay ống khác. Rồi ống khác nữa... “Sắp no rồi, con ơi, đừng…”. Nghĩ tới đó, bỗng Người Nài đứng im tự hỏi: “Sao nó không khóc nữa hè?”
Đang vuốt bớt mật và những con ong bám đầy hai tay để chạy ra với thằng bé, Người Nài giật mình ngồi thụp xuống. Có tiếng người khá gần vẳng tới: “Yang ơi! Con ai đây? Sao con ở một mình giữa rừng này? Thôi, đừng khóc nữa nào! Để ta bế con nhé.” Người Nài thở hắt: Tiếng người cùng bộ tộc với ông!
Ống mật vẫn giữ trên tay, Người Nài liền chạy ra, khấp khởi.
Bên kia lùm cây, thấp thoáng hai bà già. Một bà đang bế nựng thằng bé. Thấy ông, họ lóng ngóng e sợ. Biết ý, Người Nài lên tiếng trước: “Các mẹ ở đâu?”.
Nhận ra người đồng tộc, cả ba mừng mừng tủi tủi tíu tít hỏi thăm nhau.
Hai bà già ở cách đó không xa. Họ ở cùng với nhiều người dưới một mái nhà chung giữa một rừng cây lớn.
Người Nài bồng đứa bé đi theo họ về.
Đang ở trên nhà hay chơi dưới đất, lũ trẻ thấy họ về liền ùa ra mừng tíu tít. Mấy đứa lớn tỏ ý ngần ngại trước sự xuất hiện của Người Nài. Nhưng lời nói của các bà và những ống mật ong thơm lựng đã làm chúng vui lại, mắt sáng như sao. Lũ trẻ thi nhau giành giữ những ống mật ấy. Chúng ghé mũi ngửi, chúng le lưỡi liếm và ôm giữ, chạy đi. Những trái cây rừng do các bà mang về rơi vãi sau chân chúng.
Bà già đang bế thằng bé con Pơtao gọi giật mấy đứa trẻ lớn lại thì thầm hỏi điều gì đó. Nghe xong, bà làm hiệu cho Người Nài đi theo bà. Bà già kia bỏ gùi xuống, cũng tất tưởi theo sau.
Ra khỏi nhà chưa hết tầm tên bay, Người Nài chợt nghe có tiếng đàn bà rấm rẳng than khóc. Tiếng khóc mỗi lúc một gần.
Bên bụi cỏ đuôi chồn là một người đàn bà tóc xõa nhem nhuốc bùn đất, vừa khóc than vật vã, vừa mê mải nhoài người dùng tay bới móc đất dưới hố sâu. Chị ta đang khóc con: “Chưa bằng trái bí, chưa bằng củ khoai, chưa có chân, sao con đã chạy đi, bỏ mẹ?.... Đã có mắt đâu, làm sao con thấy? Đã có chân đâu, làm sao con chạy? Mà con vẫn bỏ đi… Có ai bồng bế con? Có ai cho con ăn cái sữa? Con đói, con khóc… làm sao bây giờ?...”
Người Nài không cầm lòng nổi, nước mắt trên mặt đã thành suối.
Người đàn bà khóc con mê mải đến nỗi không hề biết có người đến cạnh mình: “Người ta nói… con ở dưới đất, sao mẹ bới tìm hoài không thấy? Con ở trong rừng ư? Mẹ cũng tìm mãi rồi. Củ khoai, trái bí của mẹ ơi! Con ở đâu? Con ở đâu, sao không về với mẹ? Hãy làm sợi rễ, hãy làm cọng dây, dù có bò có bám ở đâu, mẹ cũng tìm con về bằng được. Sao không chỉ lối để mẹ đón con về? Yang ơi, giúp con? Sao Yang không trả nó về? Nó là con của con, không phải là con Yang, nên Yang không thương ư? Yang ơi?...”
Chợt, người đàn bà ấy im bặt.
Bà già đưa tới trước mặt chị một thằng bé mặt mũi sáng sủa đang nhoẻn cười và vung chân múa tay.

Chị ta vùng đứng dậy, hai cánh tay giơ cao cùng tiếng rú vói trời, rồi xịu xuống. Chỉ một lát, chị lại mở mắt, ngồi phắt dậy giằng lấy đứa bé trên tay bà già. Chị đút ngay đầu vú còn lấm lem đất cát vào miệng nó. Vừa chặn kẹp mấy ngón tay lên bầu sữa đang căng cứng, chị vừa mếu máo nựng ru. Đang đói, thằng bé bập vào ngay. Nhưng chỉ sùng sục bú được mấy hơi nó đã phải ưỡn người quẫy khóc đến tím tái mà vẫn không thành tiếng. Nó bị sặc, sặc do bầu sữa căng ứ bất ngờ được khai thông vọt ra thành những tia cực mạnh.
Người đàn bà vội đưa tay vuốt ngực thằng bé, miệng liên hồi nói “mẹ xin… mẹ xin”. Gương mặt chị phút chốc bừng sáng bởi nụ cười nở giữa những dòng nước mắt hạnh phúc chảy chan hoà…
Chồng chị theo Pơtao đánh giặc. Chị mang thai chỉ còn non con trăng nữa là sinh. Bỗng giặc tràn tới. Chị cùng người làng chạy vào rừng. Giặc điên cuồng đuổi theo. Chị chậm chân nhất, bị một tên đuổi kịp nắm tóc giật ngược về sau. Thấy bụng chị đã cao vượt mặt, hắn liền co chân đạp thẳng vào bụng chị. Đứa con trong bụng vọt ra…
Mẹ chị và những người cùng đi đã đắp mộ cho con chị tại chỗ, lâu rồi. Nhưng từ đó về sau, khi nghe ai đó nói con mình đã chết, chị sừng sộ không tin. Chị lang thang vật vã tìm con khiến mẹ chị cùng dân làng đã phải đi tìm không biết bao lần. Và cũng không biết bao lần, họ bắt gặp chị rã rượi nằm gục vì kiệt sức ở đâu đó. Sau này, mẹ chị mới nghĩ ra cách đắp một nấm đất cạnh làng rồi nói rằng con chị đang nằm đó. Mẹ chị làm thế để chị khỏi vơ vẩn đi xa, dễ làm mồi cho thú dữ, hoặc sa vào tay giặc, hoặc chết đói chết khát dọc đường.
Chị đã ngồi bên nấm đất ấy khóc con hết ngày này qua ngày khác. Chị sẽ còn làm như vậy không biết đến bao lâu nếu mẹ chị không gặp đứa con của Pơtao...
                                                                                  ******
 
Suốt thời gian dài đã diễn ra cuộc giằng co quyết liệt giữa Người Nài và Người Đàn bà mất con. Vật bị giằng co giữa hai người là đứa con trai của Pơtao.
Bất cứ khi nào, hễ thấy mặt Người Nài là người đàn bà ấy xồ tới với nét mặt hừng hực như lửa rừng lau cháy. Chị ta rủa xả Người Nài và buộc tội ông đã cướp con mình.
Trước những lời chửi bới, Người Nài chỉ im lặng. Gặp được người có sữa cho thằng bé bú là ông biết mình được Yang thương rồi. Người ấy lại khăng khăng coi thằng bé là con đẻ và hết lòng cưng chiều nuôi nấng là Yang còn thương mình hơn nữa.
Đã có nơi tin cẩn dựa đỡ, Người Nài chú tâm âm thầm lo toan. Ông lần về làng cũ tìm lại những người đang trốn giặc trong rừng. Ông đi khảo sát núi rừng sông suối tìm nơi làm cứ địa chống giặc…
Người Nài đang oằn lưng cõng cái ước nguyện giành giữ đất đai sông suối của cả một bộ tộc gửi gắm trong lời trăng trối của Pơtao.
Mỗi lần đi, phải lâu lâu Người Nài mới về. Sau những hiểm nguy, ông luôn khát thèm được gần gũi bồng bế giọt máu của Pơtao, đứa bé mà ông đã coi như con đẻ của mình. Nhưng…
Nỗi niềm trớ trêu của Người Nài, chỉ có một người hiểu.
Đó là mẹ của Người Đàn bà mất con.
Nhiều lần thấy Người Nài thơ thẩn đầu sàn, phải quay đi tránh cái nhìn gằn ghẻ của con gái mình, bà già ấy lại làm hiệu cho ông ra rừng. Người Nài phải đợi khá lâu mới thấy bà cõng thằng bé ra. Ông ôm thằng bé mừng mừng tủi tủi. Nó cũng sáng mắt sáng mặt náo loạn chân tay. Cái tình cái nghĩa hòa quyện quấn quýt nụ cười và nước mắt khiến bà già không khỏi nao lòng.
Và, sau nhiều lần chứng kiến cảnh ấy, bà già đã ướm ý Người Nài nên bắt con gái bà làm vợ.
Lần đầu, nghe bà già nói vậy, Người Nài giật mình. Máu và nước mắt đang đầy, tính chuyện bắt vợ bắt chồng là có tội.
Lần sau, chỉ thấy cặp mắt Người Nài lặng lẽ nhìn xa. Lòng Người Nài rối bời. Là đàn ông, ai cũng phải bắt vợ. Nhưng ông phải gác lại tất cả những cảm xúc riêng tư để lo việc lớn. Và ông lại từ biệt bà già để ra đi…
Chuyến đi ấy dài hơn một con trăng. Trở về, Người Nài đứng nôn nao ở bìa rừng chờ bà già cõng thằng bé ra cho mình gặp. Nhưng chờ lâu chẳng thấy. Đợi mãi mới thấy một đứa trẻ chạy ra. Nó nói: Bà già bị bệnh sắp chết rồi!
Người Nài hoảng hốt lao thẳng về làng.
Bà già nằm đó. Có lẽ tất cả tấm đắp bằng da thú trong nhà đều đã được  mang ra phủ hết lên người bà. Lay mãi, bà mới gắng gượng quay qua nhướng mắt nhìn ông. Bà hỏi thều thào tiếng được tiếng mất:
“Con có… thương con gái mẹ không?”
Không chần chừ, Người Nài gật, gật lia lịa.
“Con có chịu… bắt nó làm vợ không?”
Tay Người Nài run run trong bàn tay đen đủi xương gầy của bà già. Thấy ông im lặng, bà già buông một câu lạnh lẽo:
“Con không chịu bắt nó làm vợ, ta chết không nhắm được mắt!”
Người Nài đờ đẫn buông tay bà già ra.
Và ông run.
Ông run bởi ông hiểu, câu trả lời của mình không phải chỉ để cho một bà già sắp chết nằm đây nghe thấy, mà cả Pơtao đã về trời cũng sẽ nghe, cả bao nhiêu người đã chết, cả núi rừng sông suối đang bị giặc xâu xé, cả bộ tộc với bao định ước huyết thống… cũng sẽ cùng nghe. Cả Yang và cả các thần linh nữa chứ…
Ngẫm ngợi thật sâu.
Trong lúc loạn lạc này ông không còn bụng dạ nào nghĩ tới chuyện vợ chồng. Ông hoàn toàn có thể nói lời từ chối. Nhưng còn đứa trẻ con Pơtao… Nó đang lớn lên vùn vụt, đã chắc nụi và phổng phao trong tay người ôm đỡ. Nếu chỉ để nó lớn như một đứa trẻ bình thường thì không cần nghĩ làm gì. Đằng này nó phải mang sứ mệnh thiêng liêng là người kế nghiệp Pơtao để qui tụ lòng người về một mối đánh đuổi giặc Xila. Nếu ông không chịu bắt Người Đàn bà mất con kia làm vợ thì mãi mãi đứa bé con Pơtao chỉ là con của Người Đàn bà mất con điên loạn. Nếu được ông bắt làm vợ, ông tin Người Đàn bà mất con kia sẽ dần vượt qua cơn mê lẫn. Lúc đó người đàn bà đáng thương kia sẽ không chỉ là người cho con mình sữa, mà còn là người chung lưng ghé vai san sẻ gánh nặng với việc lớn của mình…
Những người đứng quanh thấy Người Nài chùng chân rồi quì mọp xuống. Thấy ông gục đầu nức nở, thấy hai bờ vai rùng rùng bục vỡ và nước mắt như thác lũ ào xuôi trên thân mẹ già. Đống tấm đắp bằng da thú cũng bần bật rung theo. Bà già vừa khóc vừa ghì siết lấy đầu ông. Cả nhà đứng sẵn xung quanh cùng khóc. Có ai đó đang rờ riết bàn tay ông. Bàn tay ông được dịu nhẹ nâng lên và áp miết vào mặt người đó. Khi Người Nài ngẩng lên, đã thấy nơi cổ tay mình một sợi chỉ cầu hôn năm màu buộc khít.
Buộc sợi chỉ ấy là Người Đàn bà mất con.
Người Nài sững sờ. Ông lau rồi dụi mắt mấy lần, vẫn không tin những gì đang trông thấy. Đây là thực hay mơ? Khuôn mặt nhem nhuốc và mái tóc xơ xác ngầu rối đâu rồi? Cả ánh mắt luôn gằn ghẻ và trì độn khi nhìn ông nữa đã biến mất đâu rồi? Hóa ra người đàn bà… trẻ quá! Hiển hiện trước mắt Người Nài là một dáng người thon lẳn, khuôn mặt xinh tươi và ngát hương như nhánh lan Pơsi vừa bung nở rạng rỡ. Và mái đầu cúi nghiêng giấu mắt nhìn e ấp…
Dưới chân họ, đứa con của Pơtao đang đứng ngửa cổ cười giòn tan. Mỗi tay nó vòng ôm một chân của một người. Những người có mặt sung sướng nhìn cặp vợ chồng đẹp đôi như núi như sông quấn quít với nhau rờ rỡ…

                                                                                  ******
Sau đám cưới vội, Người Nài lại từ biệt ra đi. Người vợ bồng đứa con của Pơtao nhìn chồng vượt núi qua màn mây nước mắt.
Qua bao đêm thấp thỏm chờ mong, Người Nài đã trở về. Vợ ông không hiểu ông đang làm việc gì mà khuôn mặt lúc nào cũng đăm chiêu lo lắng?
Đã đến lúc Người Nài phải nói hết sự thật cho vợ nghe.
Suốt mấy đêm, giọng kể của Người Nài cứ chầm chậm như mạch nước ngầm thấm vào lòng Người Đàn bà mất con. Ông kể về giặc Xila, lũ giặc từ phía mặt trời lặn kéo qua dãy núi Chư Mom Ray đánh chiếm tàn sát các buôn làng của những tộc người Tây Nguyên. Ông kể về Pơtao, vị thủ lĩnh của bộ tộc đã trận vong. Ông kể về đứa bé con của Pơtao… Đứa bé đang nằm giữa hai người đây…
Người Đàn bà mất con mang trong lòng mối thù với giặc Xila đã hiểu ra rất nhanh. Chị ngồi dậy đốt đuốc ngắm kĩ đứa trẻ đang ngủ say. Dưới ánh lửa soi, đứa trẻ con của Pơtao toàn thân ánh lên một màu hồng rực. Người đàn bà quì xuống ôm lấy đứa trẻ ấp vào ngực mình, miệng nở một nụ cười nhưng nước mắt tuôn tầm tã: “Ôi con! Ôi Pơtao!... Hãy lớn nhanh trả thù cho mẹ, cho dân làng…”
Tin giặc Xila sắp kéo tới làm cả bộ tộc xôn xao. Phải làm gì bây giờ? Giặc đến thì phải đánh thôi! Người Nài nói: Dân làng hãy chuẩn bị thật nhiều giáo mác, làm thật nhiều nỏ, chế thật nhiều tên thuốc độc, làm thật nhiều bẫy đá…
Dặn dò dân làng xong, Người Nài quay sang dặn vợ:
“Mình à, hãy nuôi con của Pơtao cho tốt! Tôi đi...”
Người vợ níu áo chồng hỏi dồn:
“Mình đi đâu?”
“Tôi đi về xuôi…”
Chuyến đi ấy dài bằng cả một mùa rẫy. Khi Người Nài trở về thì vợ ông đã sinh đứa con đầu tiên.
Mùa rẫy sau, Người Nài sung sướng đón nhận đứa con trai thứ hai.
Mùa rẫy sau, ông có đứa con trai thứ ba.
Rồi nhiều đứa con nữa của họ ra đời...
Đứa con của Pơtao đã mười mùa rẫy, được Người Nài dạy cầm lao.
Đứa trẻ con của Pơtao mười hai mùa rẫy, được Người Nài dạy bắn tên.
Đứa trẻ con của Pơtao mười lăm tuổi, mắt sáng quắc như lửa, da nâu căng bóng như thớt gỗ trắc, giọng nói âm vang như tiếng chiêng ngân, được Người Nài đưa ra rừng dạy võ, cưỡi ngựa…
Vào một buổi chiều, dưới tán cây cổ thụ, Người Nài đã kể hết cho nó nghe về cái chết của Pơtao và cuộc chiến thất bại của bộ tộc mình. Hiểu chuyện, nó nghiến chặt răng, mắt quắc lên dữ tợn. Bất thần, Người Nài giơ lao nhằm thẳng ngực nó phi tới. Nhanh như một con báo, nó nhún mình một cái nhảy phóc lên cành cây giơ lao ra nghênh chiến. Mũi lao của Người Nài cắm phập vào thân cây rung bần bật. Nhìn chàng trai đã có dáng vóc của một thủ lĩnh lừng lững hiên ngang, Người Nài gật gù:
“Con xứng đáng là người kế nghiệp Pơtao!”
Rồi Người Nài lại chuẩn bị ra đi.
Chàng trai con Pơtao cất lời:
“Cha ơi, cha đi đâu? Sao cha không cho con và trai làng tiến công giết sạch giặc Xila đi?”
Người Nài vỗ vỗ vào vai chàng thanh niên mới lớn, cất giọng cười ha hả:
- Con đã lớn nhưng chưa khôn. Giặc Xila mạnh lắm, một mình bộ tộc ta không chống được đâu.
“Thế cha đi đâu?”
“Ta đi về phía núi Ngok Linh tìm người Jẻ Triêng. Ta đi về phía sông Serepok tìm người Mơ Nông. Ta đi về phía Làng Hồ tìm người Bahnar. Ta đi về phía mặt trời mọc tìm người Kinh… Phải nhiều bộ tộc chung sức mới đánh đuổi giặc Xila được”.
Chàng trai đã hiểu ra, cúi đầu im lặng.
Người Nài quay vào nhà. Người vợ đang nằm cùng với đứa con đang đòi lật, phụng phịu:
“Ông đi luôn đi!”
Người Nài quay sang ngạc nhiên nhướng mắt. Vợ ông không giấu được vẻ ngượng ngập trong lời nhấm nhẳn:
“Mỗi lần ông về, tôi lại phải đẻ”.
Người Nài vỡ ra cười vang:
“Tôi đang cần… cần… cần nhiều quân mà!”.
Vai đeo nỏ, lưng đeo dao, tay cầm lao, Người Nài quả quyết lên đường. Khi đã đi tới đầu làng, Người Nài quay đầu nhìn lại. Ông thấy chàng trai con của Pơtao đang cùng các con trai ông chơi trò đánh trận. Mắt ông mờ đi như đang chứng kiến những bộ tướng dũng mãnh bên cạnh vị thủ lĩnh tài ba. Tai ông ù đi như nghe có tiếng quân reo váng động núi rừng… 

-----
Pơtao: Vua, tù trưởng
Yang: Trời, đấng Tạo hóa
Can: Mức đo phần rượu ghè
Zdồ: Tấm vải dệt tay thường
dùng để đắp hay quấn quanh
người.

Tác giả bài viết: NGUYỄN THỐNG NHẤT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến chúng tôi thông qua

Do bạn bè giới thiệu

Do vô tình bạn tìm thấy

Do sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet

Phương thức khác

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng