07:15 EDT Thứ tư, 18/10/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 61


Hôm nayHôm nay : 2039

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 33808

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7546268

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Trang nhất » Trang Văn Nghệ » Trang Văn Xuôi

Tinh thần ngày cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9 bất diệt

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Bay trên rừng chiến khu

Chủ nhật - 27/10/2013 11:45
Bay trên rừng chiến khu

Bay trên rừng chiến khu

Năm Nguyễn Cao Vân chào đời, những cánh đồng Hà Bắc quê anh con bò còn kéo cày chìa vôi; còn ở miền Nam - nửa phần xương thịt của Đất nước, máu những người kháng chiến cũ cùng đồng bào đang chảy đỏ ngầu những dòng sông!...

Thấm thoát mà hôm nay Nguyễn Cao Vân đang bay giữa bầu trời rộng, trên nửa phần đất nước ở phương Nam đang hồi sinh, từng ngày thay da đổi thịt. Từ thành phố Biên Hòa xa hơn là Thành phố Hồ Chí Minh, những ống khói nhà máy đang bốc cao, như vẫy chào Cao Vân hăm ba tuổi trẻ. Nắm tay đầy tự tin trên cần li, anh khẽ nhẹ nâng tầm. Chiếc trực thăng Mỹ UH - 1 thuần phục ngoan ngoãn vờn lên cao; nối theo biên đội, nhằm hướng rừng đại ngàn lao tới. Tiếng cánh quạt rộn ràng, rồi trở lại đều đều, rền vang bầu trời và mặt đất thân yêu. Phút chốc, dòng sông Đồng Nai hiện ra đỏ ngầu giữa đôi bờ xanh, lượn ngoằn ngoèo dưới cánh. Dòng sông mà năm nào đi chiến dịch Bình Giã, chúng tôi từng đùm ni-lông bơi sang khúc trên thượng nguồn, nghe cảm giác lạnh buốt khi nghĩ đến dòng sông đã bao năm pha máu đồng chí, đồng bào. Nhưng hôm nay, trên cao nhìn xuống dòng sông phù sa lấp lánh dưới nắng hồng tươi như da thịt trẻ thơ mới dễ thương làm sao!

Đó là dịp tôi đi viết về “trận” diễn tập của đơn vị trực thăng. Từ sân bay Biên Hòa, theo cánh tay chỉ của đồng chí phụ trách, tôi leo lên sàn một chiếc trực thăng. Lúc còn ở mặt đất, một anh bạn cho biết: khi nĩ chúi xuống phóng hỏa tiễn, người như bị rơi gia tốc, lộn ruột, khi nó cất lên, người nặng như chì... nên khi mới rời mặt đất, nhìn tới hai bên đường biên của sàn máy bay ở giữa trống lổng, mỗi bên một khẩu đại liên sáu nòng, tôi vịn thật chặt vào thành ghế của Cao Vân, hồi hộp tưởng như đang đứng trên cái bàn biết bay! Thú thật đây là lần đầu tôi đi với chiếc trực thăng võ trang UH - 1. Anh em từng quen, từ lái chính, lái phụ, đến xạ thủ đều có nịt dây an toàn, còn mình thì đứng tỉnh như không! Từ những nỗi nôn nao khi bay lên, tôi càng cảm thông sâu hơn qua lời tâm sự của Cao Vân về tâm trạng của những người bay khi đã rời mặt đất. Hễ mỗi lần cất cánh lên cao, càng thêm yêu mặt đất vô cùng. Đó là nơi đã sinh ra mình, là nơi đã nâng mình bay, rồi cũng là nơi mà mình sẽ trở về, để được thả mình lên giường chiếu. Dù là giường chiếu đơn sơ, nhưng cho mình cái cảm giác êm ru như lúc còn thơ, ngả mình vào lòng mẹ... Điều thật là giản dị: khi mà mặt đất đã cho mình được thưởng thức - dù chỉ một phần - cái vẻ đẹp của quê hương đất nước ở tầm nhìn trên cao, là bao nhiêu nỗi riêng tư đều trở thành vô nghĩa. Bàn tay tôi đã rời thành ghế, vịn lên trần, thoải mái đứng cạnh đường biên “cái bàn biết bay”, nhìn xuống, nhìn lên, nhìn ngang, nhìn dọc, nhìn xa... Dường như niềm sảng khoái có khả năng điều khiển tâm hồn.

Hai chiếc trực thăng bay trước tôi đang thả tốc độ đều, lầm lũi trong nắng sớm như con cá bơi. Xa tít, đường chân trời vẽ thành hình vòng cung, tiếp giáp với đường biên mặt đất, tạo thành một đường viềng đăng-ten tuyệt đẹp như tấm thảm trải lên cái mặt bàn tròn khổng lồ... Và tấm thảm vô cùng rực rỡ những màu sắc, vô cùng sinh động những hình khối, đường nét.

Tôi liếc nhìn Cao Vân. Anh có nước da trắng mịn, gương mặt khôi ngô, hiền, oai nghiêm dưới vành mũ lái. Mới hăm ba tuổi, anh đã ngồi ghế lái chính hai năm rồi. Hồi đi học là học máy bay phe Xã hội chủ nghĩa, nhưng khi ra trường, anh được điều về đơn vị chuyên sử dụng trực thăng Mỹ UH-1. Anh cũng chỉ được huấn luyện tại đơn vị, chưa kịp bắn tập thì yêu cầu chiến đấu ở mặt trận phía tây nam đòi hỏi. Thế là Cao Vân đã thực sự bước vào cuộc đời chiến đấu với loại khí tài mới toanh. Qua một số lần bay ngồi ghế lái phụ, anh được thử thách trong những tình huống gay go, cấp trên rút ngắn thời gian tiêu chuẩn, nâng anh lên lái chính, và anh đã cho bọn Pôn-pốt nếm nhiều đòn. Anh đã bay qua Xa-Mát, Bến Cầu, Châu Đốc, Ba Chúc... đã trông tận mắt cảnh đổ nát hoang tàn sau trận chúng tàn sát đẫm máu đồng bào ta. Niềm say mê bay của Cao Vân đặc biệt trước những đau thương tang tóc của đồng bào làm anh lặng người.

Bỗng dưng tôi bị xóc như hớp phải một ngụm rượu mạnh khi sực nhìn xuống rừng đại ngàn. Khu rừng vàng úa. Có những thân cây trơ cành, chọc thẳng. Về cuối mùa đông, rừng thay lá ư? Không chỉ thế. Cả một vùng xơ xác tiếp theo và vô khối những cái lỗ tròn đều nhau chi chít, long lanh nước trông như những con mắt oan hồn quắc lên nhìn trời. Đấy là vết tích của bãi bom B.52 rải thảm. Đã nhiều năm đế quốc Mỹ cút rồi, những tưởng mặt đất đã lành, nhưng thương đau hãy còn đây! Mà đây chỉ là dưới một đường bay, con mắt tôi được nhìn. Nghĩ càng thương mặt đất. Mặt đất trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, từng hứng chịu bảy triệu tấn bom! Đây là con số theo Rô-bơc Bun-mơ một chính khách Mỹ. Còn theo cách tính của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Thụy Điển thì: cuộc chiến tranh Việt Nam do Mỹ tàn phá đã để lại hai mươi mốt triệu hố bom, hai trăm hai mươi chín triệu hố đại bác, bốn mươi ba phần trăm diện tích bị rải chất độc hóa học... Nhưng những năm tháng mặt đất quằn lên dưới bom đạn khốc liệt mà khối lượng vượt hơn cả đại chiến thế giới lần thứ hai, thì Cao Vân còn theo trường đi sơ tán, rồi đi học xa... Mới đó mà bây giờ Cao Vân đang bay trên bầu trời hôm nào máy bay giặc Mỹ làm mưa làm gió.

Chiếc trực thăng bay đầu bỗng nghiêng mình, lượn vòng trái, triển khai biên đội bước vào chiến đấu. Tôi khom người nhìn xuống. Ánh mắt chạy lướt qua một vùng đất đỏ quạch, lúp xúp những chồi cây xanh. Và mục tiêu hiện ra những đường vôi trắng vẽ thành hình vành khăn tròn, bao quanh hình chữ thập. Về bên trái mép rừng, tinh mắt mới nhìn thấy chiếc trực thăng nhỏ xíu đang đậu. Đây là tình huống giả định một trung đoàn địch xâm nhập nội địa, đang triển khai quân tiến đánh xuống thành phố. Cao Vân vẫn ngồi như pho tượng. Mỗi chân đạp lên một cái cần. Còn tay phải nắm cần cao, tay trái nắm cái cần thấp ngang mặt ghế. Đầu anh trong mũ lái chững chạc, mặt nhìn thẳng hướng đầu trực thăng xuyên lớp mi-ca xanh nhạt, nhằm vào mục tiêu.

Hai xạ thủ đại liên bốn nòng đã đứng dậy, khom người nhìn xuống. Dây an toàn được quàng từ vai đến tận bẹn, móc treo trên trần, cho dù trực thăng nghiêng, chúi đến độ nào vẫn cứ xạ kích được. Mũ đội đầu của xạ thủ được hạ kính che mắt màu xanh đậm và to bản, trông các anh chàng mới dữ tướng làm sao. Những ngày  chiến tranh, mỗi khi bị trực thăng quây bắn, tôi nhìn lên thót ruột là bởi trông rõ nhất tên lính địch thồ lộ đôi mắt đen chồm ra xổ đạn đại liên.

Chiếc trực thăng dẫn đầu biên đội đã bổ nhào, lao xuống vun vút. Hai cuộn khói phụt ra phía đuôi trực thăng và ánh lửa xẹt như trời giáng xuống mục tiêu trông thật đã mắt. Dưới ấy vần lên một cụm khói; trong khi tiếng nổ kéo dài một cách rùng rợn: cả…ảo...ảo… đùng! Chiếc thứ hai bổ nhào. Rồi đến chiếc chúng tôi. Chiếc trực thăng lao xuống làm tôi lên ruột, người nghe nhẹ tênh, nôn nao, vừa bồi hồi khoái cảm. Tôi liếc nhìn Cao Vân. Giây phút tập trung cao để ấn nút xạ kích, nhưng anh vẫn bình thản, chăm chú nhìn thẳng. Mặt giáp mặt cùng mặt đất, mọi vật lớn lên trước mặt tôi nhanh một cách kinh khủng. Tôi chẳng hay Cao Vân đã phóng hỏa tiễn từ lúc nào, chỉ nhận ra hai luồng lửa phụt xuống, phút chốc, trực thăng đã cất lên, làm con người như đeo một tảng đá. Tiếng nổ chẳng có gì âm vang dữ dội như tưởng. Mặc chiếc trực thăng nghiêng mình đảo vòng lượn theo đội hình, hai xạ thủ hai bên, nâng đại liên xổ những loạt đạn dài.

Rồi lần thứ hai, thứ ba khi trực thăng bổ nhào phóng hỏa tiễn, nỗi nôn nao, lên ruột dành cho nỗi khoái cảm. Cũng chính cái loại máy bay UH-1 nầy, hôm nào giặc Mỹ đã dương oai tác quái  thì bây giờ tôi đang bay cùng Cao Vân làm chủ bầu trời Tổ quốc. Tự hào xiết bao.

 

*

*     *

 

Buổi bắn tập của biên đội trực thăng kết thúc tốt đẹp. Cao Vân đang nói gì vào cái mi-cơ-rô nhỏ xíu gắn bên vành mũ thò xuống. Sau đó Cao Vân ngoái nhìn tôi, cái nhìn duy nhất từ khi lên máy bay, với ánh mắt lóng lánh, cảm thông một nỗi niềm gì đó. Anh tách máy bay mình ra khỏi biên đội, bay sà xuống gần như chiếc xe hơi chạy trên một vùng đất đỏ, lác đác những chồi tơ và những khóm cỏ đuôi chồn đang mùa trổ bông. Tôi hiểu ý anh, thầm cám ơn. Anh đã được phép biên đội đáp ứng yêu cầu của tôi muốn nhìn trở lại khuôn mặt của rừng chiến khu xưa...

Những khóm cỏ đuôi chồn hay còn gọi là cỏ Mỹ (đó là một giống cỏ của Mỹ rải cho mọc tràn lan, để mùa khô tưới xăng đốt rừng, đốt căn cứ ta). Cỏ bay lồng lên dưới cánh quạt, tưởng chừng tôi thò tay ra là vớ được. Tôi nhìn thấy hiện trường đánh dấu mục tiêu, đất bị cày xới nám đen và những bia hình người rách toang, xiêu vẹo. Một chiến sĩ đang làm nhiệm vụ quan sát thao trường, quơ mũ chúc mừng thành tích Cao Vân. Qua gần hết vùng đất trảng, máy bay vươn lên cao, bay ngang một khu rừng già. Một con đường mòn hiện ra thân quen, chạy ngoằn ngoèo bên ven trảng trống rồi đâm tuột vào rừng. Tôi bồi hồi bắt gặp cái công sự hình nanh sấu cặp con đường vào cửa rừng. Công sự nào cũng sụt lở, lòi những khúc gỗ lát lên giơ xương. Phải chăng các công sự đó có những cái do chính tay tôi đào và cùng tổ du kích cơ quan bám trụ chống trực thăng đổ chụp? Ngót hai mươi năm ở rừng, từ Mã Đà, Sông Bé, Bà Rá, Phước Long, Khu Đ, đến khu C, khu A... tôi đã xây dựng và ở không làm sao nhớ xiết là bao nhiêu căn cứ. Tôi chăm chú nhìn, hy vọng gặp ra những vết tích quen thuộc.

Người lâng lâng trên cánh rừng đại ngàn, tầm mắt tôi tiếp xúc từ điểm xanh nầy đến điểm khô cháy khác, vội vã bởi tốc độ bay. Tôi cũng phải căng mắt ra mà nhận bắt thật nhanh, kẻo rồi nhìn nhiều cũng như không, nếu không nhận bắt được điều gì.

Nắng đứng bóng dọi thẳng xuống một đoạn dòng suối hình chữ U, phần còn lại của dòng suối lẩn đâu dưới vòm rừng. Qua những ngọn tre cong vút, cùng cây tạp dọc bờ suối, tôi nhận ra cái bến nước. Màu nước trong vàng vàng, chảy lấp lánh qua những hòn đá cuội, hết đoạn cong thì suối lại trong xanh, sâu thẳm. Tôi có cảm giác mình đã từng xuống tắm bến nước nầy.

Cô chị nuôi Kim Lan từng xuống đây vo gạo và cô y sĩ Thùy Trang từng múc nước nấu ống tiêm. Thùy Trang thường hay đe chúng tôi: “Coi chừng em bắt được anh nào tắm trên dòng là em mét thủ trưởng cảnh cáo ngay”. Con suối oái oăm vẫn cứ lượn vòng dưới cánh, luồn từng lõm rừng và chạy ngang qua giữa lòng cứ cũ. Khu rừng đến khoảng nầy thì xơ xác, chi chít những hố bom đìa và lốm đốm nhiều mảng cháy đen, héo rũ. Những mảnh thùng chất độc hoá học dioxin lăn lóc.

Làm sao tôi có thể quên được trận bom B.52 mà những đồng đội đã ra đi. Những con người mà mỗi lần nhớ tới, tôi vẫn còn bàng hoàng. Khuya hôm ấy... Nghe hướng bom nổ, biết là trúng bếp Hoàng Cầm, nên vừa dứt đợt ba chiếc B.52 rải thảm, chúng tôi hô nhau chạy xuống bếp. Khi nhìn đến bờ suối thì nhịp cầu bắc ngang bằng le đan đã sập, chúng tôi phải chui dưới những thân cây đổ, luồn lách lội sang. Đến nơi, chẳng còn nhận ra đâu là bếp Hoàng Cầm và cả nhà ăn.

Còn đang ngẩn ngơ trước cái hố bom đìa trống hoang thì lại nghe tiếng động cơ, và tiếng bom rú ào ào chụp xuống. Những vầng lửa nhoáng lên đây đó như chớp giật liên hồi. Chúng tôi chỉ kịp nép mình vào thành hố bom cũ và những hốc cây... Tan trận bom chúng tôi nhìn thấy một rẻo tóc dài mắc trên cành tre. Nghi là của Kim Lan vì chỉ chị nuôi Kim Lan, cô gái mười bảy tuổi, có khuôn mặt tròn thùy mị, với mái tóc kẹp suông dài óng ả từng thức khuya dậy sớm, lo việc cơm nước cho cơ quan. Tìm quanh, chúng tôi gặp một bàn chân trắng mềm. Nhận ra bàn chân của Mỹ Dung. Một cô gái Sài Gòn mảnh mai, dịu hiền, từng chong đèn đánh máy công văn và những tập bản thảo dài.

Tuy bận con mọn, nhưng khuya nào Mỹ Dung cũng xuống bếp phụ với Kim Lan nhồi bột hấp bánh mì  ăn sáng (Dạo ấy ăn độn mì củ mãi nuốt không trôi, nên chị nuôi chế biến làm bánh mì). Điều thương tâm nhất là cháu Mỹ Hằng chưa đầy hai tuổi, con của Mỹ Dung bị gãy chân! Cô y sĩ Thùy Trang đang loay hoay với cái chân nhỏ xíu còn dính vào ống chân bởi một mảnh da. Nước mắt Thùy Trang chảy ròng ròng: không biết nên cắt hay nên băng?! Cuối cùng cô cắt để nhanh chóng cầm máu cho cháu; nhưng máu vẫn chảy ướt đỏ cả bông băng. Thùy Trang vội vàng bồng cháu chạy sang bệnh xá.

Đồng chí thủ trưởng trải tấm ni-lông ra đất rồi nâng nhẹ bàn chân của Mỹ Dung đặt lên. Ai đó đặt tiếp bàn chân nhỏ xíu của Mỹ Hằng bên cạnh bàn chân mẹ. Rẻo tóc dài đen mượt của Kim Lan từ cành tre lấy xuống cũng được đem đặt lên tấm ni-lông. Không ai gói lại tấm ni-lông. Rừng đột nhiên lặng phắc. Ánh nắng xiên qua một vùng rừng xơ xác, khẽ lung linh lên đôi bàn chân: một bàn chân mẹ, một bàn chân con. Mọi người còn đang ngậm ngùi thì Thùy Trang bồng cháu Mỹ Hằng quay lại. Khi giáp mặt chúng tôi, Thùy Trang hầu như không còn bồng cháu nổi nữa. Thủ trưởng kịp thời bồng Mỹ Hằng lên tay, nhìn mãi vào khuôn mặt bé nhỏ xinh xắn đã trắng bạch. Một lúc lâu, đồng chí mới từ từ đặt cháu Mỹ Hằng nằm bên cạnh bàn chân của mẹ, rồi cầm cái bàn chân con đã bị cắt rời, đem trở về đặt nối với cái ống chân đầy bông băng, cho trọn vẹn cái thi hài bé bỏng. Rừng lặng trang, như cùng người khóc lặng. 

Vút cái như làn chớp quá khứ, tôi đã bay ngang trảng tranh vàng, lúp xúp những khóm mua xám mốc. Lại gặp vài ba cái công sự lở lói nằm cặp theo bìa rừng. Một khu rừng cháy. Trên cái màu đen tro than, chồi xanh từng chòm đang đứng dậy. Chợt một ngôi mộ lẻ loi làm tôi giật thót. Ngôi mộ nằm bên một gốc cây đại thụ mà cành lá trụi trơ, vươn cội già trắng bạc, loang lổ những mảng đen thương tích, chọc lên trời. Ngôi mồ yên lặng giữa rừng đại ngàn làm tôi đinh ninh là ngôi mộ của Nghị. Phải rồi, cũng kề cận bên cái trảng tranh, dưới gốc cây đại thụ.

 Chiều hôm ấy, đang ăn cơm, chúng tôi nghe tiếng trực thăng rền xa xa. Tiếng rền còn xa nên không ai bận tâm. Đột nhiên cánh quạt xé gió, gào lên dữ dội, chạy sà trên ngọn rừng, rồi đáp xuống trảng tranh nhanh như cắt. Nhà ăn cách trảng tranh chừng trăm mét. Tôi cầm ca cơm còn đang sững sờ nhìn ra thì chiếc trực thăng đã cất lên cũng nhanh như khi đáp xuống.

– Biệt kích! - Thủ trưởng ém giọng hô - Vệ binh! Xông ra lùng ngay!

Hai đồng chí vệ binh chụp khẩu AK và khẩu các-bin lao nhanh ra trảng. Trên giá súng còn khẩu trường bá đỏ. Đồng chí vệ binh thứ ba ngồi hơi xa, chưa kịp hành động thì Nghị đã vội vàng chụp lấy súng, lao theo. Nghị là cán bộ biên tập báo Quân giải phóng. Tôi chỉ thoáng nhìn theo dáng anh lom khom trong cỏ tranh, với thân hình to ngang trong bộ bà ba mốc, rộng thùng thình. Lúc bấy giờ ngoài ba khẩu súng dài, cơ quan chỉ còn lại toàn là súng ngắn, lúc đi ăn cơm thường treo trên con sẻ cột nhà. Tôi cùng ai nấy chạy nhanh về lấy súng và thu gọn giấy tờ đồ đạc. Bỗng một loạt tiểu liên cực nhanh nổ, rồi loạt AK. Chúng tôi thận trọng tiến về phía súng nổ! Cũng vừa lúc đội vệ binh của Cục đã kéo xuống chi viện. Khi chúng tôi tới bìa trảng thì một đồng chí vệ binh cõng Nghị bị thương chạy vào. Thủ trưởng ra lịnh: chỉ một số phối hợp với vệ binh lùng biệt kích, còn tôi và hai đồng chí nữa lo điều Nghị đi bệnh viện, số còn lại trở về nhà lo thu dọn di chuyển căn cứ đã bị lộ. (Cơ quan bấy giờ chỉ có y tá, còn y sĩ Thùy Trang hãy còn ở Sài Gòn...)

Trên đường đến bệnh viện, Nghị thều thào đòi tôi đưa trở về. Anh muốn được chào anh em, chào thủ trưởng lần cuối cùng. Chúng tôi không dám khiêng Nghị trở về. Nhưng anh mệt, tha thiết kêu dừng cáng lại và móc túi áo trao cho tôi cái ví có nhiều thư từ và hình ảnh; tiện thể anh tháo luôn chiếc nhẫn, nhờ trao lại cho Thùy Trang. Anh dặn tôi: “Khi Thùy Trang lên đi đón dùm và trao lại cô những thứ nầy. An ủi Thùy Trang...”.

*

 

*      *

Tôi chợt nhận ra tiếng cánh quạt quay rộn ràng. Cao Vân đã nâng tầm trực thăng lên cao và tăng tốc quay về. Màu xanh tươi non miền xuôi dần dần hiện ra phía trước: từng ô mạ mới gieo, từng vuông ruộng lúa lên xanh, từng đám bắp trổ cờ... Và nổi bật lên những xóm làng đang trù phú với những mái nhà ngói mới đỏ au giữa xung quanh màu xanh khởi sắc của mít, xoài, cau tơ, dừa tơ... Rồi dòng sông Đồng Nai hiện ra lượn lờ cái sắc đỏ của phù sa pha trộn cùng những mảng nước trong xanh, khiến dòng nước sinh động không ngừng. Hình ảnh ngôi mộ lẻ loi bên gốc cây cổ thụ vẫn như theo hoài dưới mắt. Ngôi mộ như cùng đang bay lướt trên dòng sông, khúc sông vòng lượn. Có thể đó chưa đích xác là vùng cứ cũ năm nào nhưng tôi vẫn đinh ninh đấy là ngôi mộ của Nghị. Tôi nghĩ thầm: Hẳn là anh đang nhìn lên tôi đang bay, muốn nhắn gởi lời âu yếm về với Thùy Trang?

Bây giờ thì cái tính cách bay Cao Vân có vẻ hơi nghịch ngầm. Anh bay sà xuống đám rẫy sinh động bởi màu áo của những cô gái, làm con bò đang gậm cỏ nhảy lồng lên kinh hoàng. Rồi thẳng đà, anh lao trực thăng lượn theo dòng sông như chiếc ca-nô chạy trên mặt nước. Đôi bờ sông gần gũi xiết bao. Tôi tưởng chừng có thể thò tay ra là bẻ ngay được trái bắp to tròn, tủa chòm râu màu hung như lọn tóc. Một khúc cua, bỗng xuất hiện ngay trước trực thăng một chiếc thuyền đang chèo sang ngang. Tôi lo lắng nhìn Cao Vân. Anh vẫn ngồi như pho tượng, nhẹ nhàng nâng trực thăng lên rồi lại hạ vồng cầu trở xuống lượn theo sông. Tôi mải mê nhìn chiếc thuyền. Thuyền chở đầy mạ. Cô gái chèo, nghểnh đầu trông theo chúng tôi, làm mái tóc kẹp suông dài bay bay trên lưng áo xanh non màu mạ. Đôi mắt đen lóng lánh nhìn chúng tôi với nụ cười sáng trưng cả gương mặt tròn thùy mị, ửng hồng. Tôi nghe lòng bồi hồi. Hình ảnh cô gái chèo thuyền trên sông Đồng Nai làm tôi chạnh nhớ Kim Lan! Đúng lứa tuổi ấy, gương mặt ấy, mái tóc kẹp suông dài óng ả ấy!...

Ơi! Mặt đất thân yêu! Thời gian tính bằng phút giây khi bay từ trên cao nhìn xuống, làm trong tôi sống lên mãnh liệt những hồi ức của hằng mấy mươi năm trời; gây xúc động khôn nguôi khi trở về mặt đất. Không gian cũng sống dồn; bão hòa quá khứ và hiện tại, thành một lực nén kỳ diệu cho sức mạnh tâm hồn.

Tôi nói điều trên đây cùng Cao Vân, nhân một hôm anh đến nhà chơi. Anh ngẫm nghĩ giây lâu rồi đồng tình:

– Trong dịp bay đi, bay về làm nhiệm vụ trực chiến khi bọn địch đánh tràn qua biên giới, tôi đã được nhìn từ trên cao những cánh đồng hợp tác mênh mông, máy cày thay con bò kéo. Và những dàn tên lửa lẫm liệt chĩa lên trời. Bố tôi ở binh chủng nầy, càng cho tôi thêm tự hào. Đất nước trong chiến tranh ác liệt mà vẫn cứ đi lên, vẫn cứ đổi mới theo ý muốn con người. Bản lĩnh bản thân có tác dụng thúc đẩy, nhưng hoàn thành nhiệm vụ là công lao nhiều người.

      *

       *      *

Tôi và Cao Vân lại hàn huyên. Nghe cảm xúc của tôi, anh hỏi phăng tới về mối tình của Nghị và Thùy Trang.

 Hai người gặp nhau trong một cuộc xuống đường chống Mỹ ngụy đòi dân sinh, dân chủ. Bọn cảnh sát  đàn áp bằng trái cay, một cô gái bị ngất xỉu. Nghị đứng gần, vốn to khỏe, anh xợt bồng cô gái chạy đi cấp cứu. Thế là họ quen nhau... Cô gái đó là Thùy Trang. Khi ngọn lửa tình yêu vừa đượm, cũng là lúc luật 10/59 ban hành, Nghị buộc phải rời Sài Gòn lên chiến khu. Xa nhau bốn năm ròng, hai người chẳng tin tức gì nhau, tưởng duyên lỡ từ đây người mỗi ngả. Bỗng một hôm, Nghị nhận được thư Thùy Trang gởi theo một đại biểu sinh viên Sài Gòn lên dự Đại hội kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Biết là Thùy Trang vẫn còn chờ đợi và đang bị địch theo dõi, Nghị trình bày với tổ chức cơ quan và được chấp nhận cho người đi Sài Gòn rước Thùy Trang lên chiến khu công tác. Thùy Trang đang trên đường lên chiến khu thì...

Chúng tôi đêm ấy đành phải khiêng Nghị trở về. Cũng may gặp ngay thủ trưởng ở mối đường vào cứ cũ. Đồng chí vội vàng đến bên Nghị. Cầm tay Nghị, thủ trưởng hiểu ý, ghé sát tai nghe Nghị thều thào. Ngoài tiếng gió của rừng đêm thì thầm, chúng tôi chẳng nghe được Nghị nói gì. Mãi đến khi đồng chí chủ trưởng kề tai Nghị trả lời: “Đảng ủy cấp trên đã chuẩn y đơn xin vào đảng của đồng chí rồi!”, thì chúng tôi mới hiểu ra cái nỗi lòng của Nghị nằng nặc đòi trở về, trước khi mình trút hơi thở cuối cùng... Chúng tôi ngậm ngùi mai táng Nghị ngay trong đêm, vì bọn biệt kích còn lẩn quẩn đâu đây. Đâu còn chỗ nào khác hơn là nơi bên hè cứ cũ. Chúng tôi chôn anh dưới tàn cây cổ thụ, mà người miền núi gọi là cây kơ-nia, lúc ấy tàn lá đang sum suê, với ý muốn quanh năm cây che bóng mát anh nằm.

Ít hôm sau Thùy Trang lên. Được trạm báo, tôi đi đón và trao lại các vật kỷ niệm của Nghị cho Thùy Trang, khi ấy, hai bàn tay cô run rẩy như không cầm nổi. Ngay hôm đó, tôi dẫn Thùy Trang đi khoảng nửa ngày đường, trở về cứ cũ thăm mồ Nghị. Lúc bấy giờ chỉ có tiếng gió rừng âm vang đâu trong thẳm sâu. Mãi đến khi trở về, khi đã lau khô nước mắt, tỉnh táo trở lại thì Thùy Trang mới nói một câu nghe như tiếng lòng đã chắt lọc gọn khô mà dư  vang mãi hồn tôi:

- Anh bảo rằng chung thủy cùng em, nhưng khi em lên với anh, thì anh xuống đất anh nằm!

Cao Vân hơi ngập ngừng một lúc:

- Chị Thùy Trang bây giơ...bây giờ ra sao?

- Sài Gòn giải phóng, hai năm sau Thùy Trang mới lấy chồng, đúng năm cô tròn ba mươi tuổi. Trước đó cũng có nhiều người đặt vấn đề, nhưng Thùy Trang đều im lặng. Anh chồng bây giờ là bạn thân của Nghị hồi còn học chung trường, cùng rủ nhau đi chiến khu. Nhưng anh nầy ở sư đoàn 9. Đợt tấn công đầu Xuân Mậu Thân, anh bị thương, được đưa ra Hà Nội điều trị. Khi anh tập đi được vững cái chân giả thì vào học viện chính trị của Tổng cục. Sau giải phóng, anh được điều về công tác tại Cục chính trị Quân khu 7. Anh và Thùy Trang vốn người quen cũ và từ đó chung sống cùng nhau. Hiện giờ anh chị đã sinh được một cháu gái lên ba tuổi, cũng trắng trẻo và mảnh mai như mẹ. Thùy Trang đặt tên cho cháu là Mỹ Hằng, để không bao giờ quên cái bàn chân nhỏ xíu của Mỹ Hằng bị bom B.52 tiện xương, con của Mỹ Dung mà thi thể tan vào cát bụi chỉ còn một bàn chân!

Cao Vân trầm ngâm vẽ hai chữ Mỹ Hằng qua mấy giọt nước trà động trên bàn. Và không nhìn lên, anh bảo tôi:

- Hôm nay nhân ngày nghỉ, ta có thể đến thăm chị Thùy Trang và cháu Mỹ Hằng được không?

Tôi tán thành:

- Anh chị bây giờ sống với nhau rất đầm ấm. Chồng ngày ngày đạp xe trên cái chân giả, đi làm việc. Mỹ Hằng gởi nhà trẻ. Thùy Trang là bác sĩ, hiện làm việc ở một bệnh viện của quân khu. Chúng ta đến thăm nhất định là Thùy Trang mừng lắm.

Vẫn ngồi lặng nghiêm như khi bay, Cao Vân nghe từ bên trong cái tiếng “động cơ” của lòng, lúc lâu anh thủ thỉ như tâm sự:

- Thời gian bào mòn những nấm mồ. Bào mòn xương cốt. Nhưng ký ức thì  không thể. Con người như chị Thùy Trang thì... Có lẽ nên thôi! Mình đến e làm tấy lại nỗi đau không bao giờ cũ của chị? Cả nỗi đau của đất còn nhiều chiều sâu thẳm và bí ẩn như hài cốt cùng bom lép. Cái chiều sâu đầy năng lượng đặc biệt cho tâm hồn, nâng cánh cho tôi bay mà không có tia hồng ngoại hay tia la-de nào có thể dẫn dắt. Cám ơn những con người từng sống chết cùng mặt đất, từng gởi xương cốt trong lòng đất như Nghị, như muôn ngàn đồng đội của chúng ta...

 

Tác giả bài viết: THANH GIANG

Nguồn tin: www.vannghequandoi.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến chúng tôi thông qua

Do bạn bè giới thiệu

Do vô tình bạn tìm thấy

Do sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet

Phương thức khác

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng