14:01 EST Thứ hai, 11/12/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 28


Hôm nayHôm nay : 1683

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 21985

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7666864

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Trang nhất » Trang Văn Nghệ » Trang Văn Xuôi

Gặp mặt truyền thống hội đồng ngũ sư đoàn 316

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Giao thông vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Chủ nhật - 03/07/2016 05:52
Giao thông vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Giao thông vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Khi nói đến chiến thắng chấn động địa cầu Điện Biên Phủ mấy chục năm về trước, điều người ta hay nhắc tới là sự sáng tạo.
 Sự sáng tạo không chỉ xuất hiện ở tầm vĩ mô, chiến thuật, chiến lược, cách điều binh khiển tướng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà còn ở những công việc nhỏ nhất, bởi những con người bình thường nhất. Điều đó thể hiện rất rõ trong công tác bảo đảm giao thông vận tải phục vụ cho chiến dịch lịch sử này.

Mở đường
Tiểu đoàn trưởng Công binh 444, e151, f351 của chiến dịch Điện Biên Phủ Ung Răng (hiện sống ở Bình Dương) khi chia sẻ về những ngày đầu mở đường có bảo rằng, ngày ấy, anh em công binh không ai hình dung ra được xe pháo thế nào. Nhiều người còn chưa bao giờ nhìn thấy ô tô chứ nói gì đến khẩu pháo 105 li, 2 bánh, càng dài ngoẵng, nòng pháo ngả về phía trước và cao xạ pháo 37 li (tiếng lóng là “nữ học sinh”) 4 bánh, nòng pháo dài, cũng do xe kéo, vì thế, làm đường lần một xong, lại tiếp tục phải mở thêm nửa mét nữa, cua cũng vậy, phải đảm bảo từ 8-10m để cho vừa xe. Khi sửa sang mở rộng đường theo đúng tiêu chuẩn kĩ thuật và làm mới được 89km, từ khu rừng Nà Nham qua đỉnh Pha Sông (cao 1.150m) xuống bản Tấu (trên đường Điện Biên Phủ đi Lai Châu), tới bản Nghễu, cách Điện Biên Phủ 15km xong ai cũng hồi hộp. Chỉ đến khi xe pháo đi qua an toàn, tất cả mới cùng reo hò, vỗ tay ầm ĩ. Còn đơn vị của anh thanh niên xung phong Nguyễn Văn Ký (sinh năm 1935, hiện sống ở Sơn La) thì trực ở đèo Pha Đin (dài 32km, cao 1.648m, có tới 8 khúc cua nguy hiểm), là trọng điểm đánh phá của máy bay địch. Buổi chiều, một quả bom rơi trúng tim đường, thành một cái ao nhỏ. Cào, san, khiêng, gánh, xe cút kít chở mãi cho tới đêm khuya vẫn chỉ lấp được lưng lửng hố bom. Đúng lúc ấy, một chiếc xe Zeep chở một người nhỏ nhắn, quần áo nâu đi đến. Cả đơn vị hùng hục, cố làm cho xe cấp trên đi qua. Nhưng Ký thấy khó lòng xong trước trời sáng, máy bay địch mò đi ăn sớm thì gay to. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu. Anh nói với chỉ huy ý tưởng của mình. Thế là hai khúc tre dài, chắc được luồn xuống gầm xe, mỗi đầu ba người, vị chi là 12 người, khênh bổng cả xe lên. Cẩn thận! Chú ý đều tay! Bên trái cao lên một tí, thế thế, được rồi! Từ từ! Bước ngắn thôi cho chắc chân. Sắp qua rồi. Cố lên nào! Dừng lại! Từ từ hạ từ vai xuống tay nhé! Thế, được rồi, Nào, thả tay xuống từ từ… Được rồi! Thở phào! Người áo nâu bước xuống, đến trước mặt Ký, đặt cả hai tay lên vai anh, tên cậu là gì? Làm sao nghĩ ra được cách này? Báo cáo cán bộ, ở quê em, người ta còn khiêng được cả cái nhà ấy chứ, cái xe cán bộ đã mùi mẽ gì? Người áo nâu lấy bao thuốc mời Ký và mọi người. Chưa bao giờ, dân thuốc lào được hút một thứ thuốc thơm như vậy. Sau đó Ký được chọn đi học lái xe về làm lính cho Cục trưởng Cục Vận tải ấy.

Làm đường mới, nhất là những đoạn khó bên vách đá, bên vực sâu đều do công binh đảm nhiệm. Phải có những dụng cụ chuyên dùng: choòng, xà beng, búa tạ, đục thép (để đục đá làm lỗ mìn) thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm. Nhà thơ Thi Nhị (đã mất), chồng nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn có bài thơ ngợi ca anh lính công binh Nguyễn Phủ Lý. Cả người giữ choòng và người quai búa đều đứng trên thang để đục đá ở lưng chừng núi chênh vênh, ngã như chơi. Người không khỏe, thần kinh không vững, ý chí không cứng như choòng không thể làm được việc này. Một người quai được vài chục nhát liền đã mệt nhoài. Đằng này, anh Lý đã quai liền 972 nhát búa, không kém gì búa máy. Tôi không biết gì về anh ngoài con số 972/ Anh quai liền một hơi ngần ấy búa/ Những tảng đá gan lì phải nát vụn mở đường/ Cho pháo ta vào Điện Biên trút lửa…

Vậy là bất ngờ đầu tiên với quân Pháp nhà nghề, quân Pháp nhà giàu cưỡi máy bay ra trận là chiến thắng của đội quân cách mạng, đội quân nhà nghèo, làm đường đất, bước chân nát đá, lội bì bõm trong đất lầy thụt xông vào đánh trận địa chiến đầu tiên, trận địa chiến duy nhất trong kháng chiến chống Pháp.

Thả pháo trôi sông
Ông Trần Văn Từ (sinh 1932, hiện ở P.806, nhà C, tổ 44 Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội) tự hào kể với tôi. Mình là quân của e34 Hà Nam Ninh của Trung đoàn trưởng Hà Kế Tấn (sau làm Bộ trưởng Thủy Lợi, đã mất). Đầu năm 1950, cả trung đoàn kéo lên Việt Bắc, tham gia chiến dịch Biên Giới, góp phần đánh tan hai binh đoàn Lơpa và Sáctông, giải phóng một hành lang 100km từ Đồng Đăng đến Tiên Yên (Móng Cái). Sau đó, qua cửa khẩu Thanh Thủy (Hà Giang) sang Trung Quốc, đóng ở Tân An Phố (Vân Nam) học cách sử dụng lựu pháo 105 li. Đơn vị khác thì học cao xạ pháo 37 li. Đầu năm 1952, huấn luyện thuần thục xong thì nhận 20 khẩu, ngồi trên xe GMC cùng 3.700 viên đạn, kéo pháo theo sau về nước. Đến thị trấn Hồ Kiều, Trung Quốc, đối diện với Cốc Lếu - Lào Cai bên ta thì dừng lại. Cầu bị phá rồi, từ Lào Cai về Yên Bái cầu đường hỏng hết, xe pháo cũng không chạy được.

Làm thế nào bây giờ? Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới, người Việt Nam nghĩ ra một tuyệt chiêu: tháo rời cả pháo, cả xe ra cho xuống mảng trôi sông. Các cố vấn Trung Quốc không nghe, không có bất kì giáo trình, sách báo quân sự nào trên hành tinh ghi chuyện này. Thì bây giờ sử sách sẽ ghi chứ sao! Nhưng tháo ra rồi có lắp lại được không? Có đảm bảo độ chính xác không? Thế giới chưa ai làm thì người Việt Nam làm. Yên chí lớn! Xe 2 tấn, pháo cũng 2 tấn! Mảng được cốn cực kì chắc chắn. Bốn tấn đá được khuân xuống đặt lên mảng để thử tải cho chắc ăn! Nước chảy bè trôi. Chỉ việc vát vát, cậy cậy cho mảng đi vào giữa dòng chảy. Khẩu 105 được tháo ra. Cái nòng nặng nhất khoảng 700kg, càng, bộ bánh nhẹ hơn. Tất cả được khiêng xuống mảng, chằng buộc, chèn cẩn thận. Ô tô cũng được tháo rời. Xát xi riêng, tay lái và 6 bánh riêng, 4 bánh còn lại và buồng máy riêng, thùng xe riêng, cứ 2 chiếc bè chở được 1 khẩu pháo hoặc 1 xe. Đêm đi, ngày nép vào chỗ cây cối rậm rạp tránh máy bay. 

Điều đặc biệt là một đại đội dân công nữ được huy động lên bản Nậm Cúm đóng 11.600 bè. Lúc đầu 4 chị 1 mảng chở được 1,2 - 1,5 tạ, mất 2 ngày về đến Pa Tầng. Lại 1 ngày đi bộ ngược lên Nậm Cúm. Sau quen dần sông nước, mỗi ngày chỉ cần 2, rồi 1 người/mảng, chở được 3 tạ, thời gian đi về cũng rút ngắn lại chỉ còn 1 ngày, nhờ thế 2.000 tấn gạo nếp Lai Châu đã về trước thời gian quy định.

Xe đạp thồ, sáng tạo độc đáo Việt Nam
Sở chỉ huy của ông Đặng Kim Giang (tên khai sinh: Đặng Giao) - Chủ nhiệm cung cấp mặt trận, nằm trên một quả đồi đối diện với Sở chỉ huy của Đại tướng, cách nhau gần 2km, cạnh trụ sở Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Lai Châu Lò Văn Hặc, để tiện phối hợp khi huy động lực lượng tại chỗ. Mới đầu, quân ông chỉ có 20 người. Phó Chủ nhiệm là ông Nguyễn Thanh Bình (Cục trưởng Quân nhu). Tham mưu trưởng là ông Nguyễn Ngọc Minh. Sau được tăng cường thêm 300 cán bộ, trong đó có ông Trần Lương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử làm Chính ủy Cung cấp mặt trận.

Đường giao thông có rồi, vấn đề bây giờ là tổ chức vận chuyển số lượng lương thực hàng hóa đã huy động được và vẫn đang huy động tiếp.
Để đánh địch dự kiến khoảng 45 ngày, phải huy động được 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm tươi khô, chưa kể rau, củ, quả. Theo phương châm đánh chắc tiến chắc, thời gian có thể kéo sang cả mùa mưa, khối lượng hậu cần phải tăng lên gấp 8-9 lần. 
Có hàng rồi, còn phải lo vận chuyển lên mặt trận.

 Lấy gì vận chuyển? Trước hết là dựa vào sức dân, sức người. Ngay cả các đơn vị bộ đội hành quân lên mặt trận, ngoài súng với 3 - 4 cơ số đạn, xẻng, quần áo mang theo cũng phải mang gạo cho chính mình, từ 10 - 15 cân tùy theo cung đường hành quân, nhận từ các kho dọc đường, vì mỗi ngày cũng ăn hết 1,1kg rồi.
Thanh niên xung phong làm nhiệm vụ sửa đường, san lấp hố bom, làm lán trại… Dân công hỏa tuyến chủ yếu gánh vác, thóc gạo các loại, đạn, mà nặng nhất là đạn pháo. Và 20.000 xe đạp thồ (tuyến hậu phương 18.491 chiếc, tuyến chiến dịch 2.500 chiếc) đã xuất hiện để thực hiện công việc này. Vất vả, khó nhọc, nhưng mà vui. Vui được thoát li gia đình, được sống tập thể mà ai cũng háo hức đóng góp sức mình cho kháng chiến thành công. Nhưng vui nhất là lúc bộ đội gặp dân công hỏa tuyến. Có khi đoàn bộ đội đi vào thì dân công hỏa tuyến đi ra, có khi đi song song một đoạn, có khi gặp nhau ở một ngã ba, có khi cùng được lệnh nghỉ một lúc dưới cánh rừng già. Cá gặp nước không vui bằng bộ đội gặp dân công hỏa tuyến. Lập tức ào lên, í ới tiếng chào hỏi thăm đồng hương. Vẫn đi theo đội hình hành tiến, nhưng mắt thì dán vào nhau, miệng cười, mắt cười và người cứ rộn cả lên. Nếu nhận được đồng hương thì càng… sướng! Hai người đã phải lòng nhau mà gặp nhau thì sống chết cũng phải xin phép chỉ huy cho nhào vào, nắm tay nhau, bá vai nhau mà rung, mà lắc… Nếu không thì cứ vẫy rối rít cũng thỏa được nỗi mừng cá nước. Mặt ai cũng cứ roi rói như hoa ban đỏ, hoa chuối rừng. Và lập tức vang lên những câu hò đối đáp:
- Bộ đội mà gặp dân công (ai đi hò lờ) như cá gặp nước (ai đi hò lờ) như rồng gặp mây (hò lơ ới lơ, tiếng ai đi hò lờ).
- Hỡi anh lính trẻ kia ơi (ai đi hò lờ), em thương anh lắm (ai đi hò lờ) sang chơi bên này (hò lơ ới lơ, tiếng ai đi hò lờ).
Cánh lính trẻ còn đang sướng rơn lên vì lời mời mọc, chưa kịp đáp lại thì cái giọng con gái lảnh lót kia đã cất lên rồi:
- Anh đi đánh trận Điện Biên (ai đi hò lờ), anh mà không bận (ai đi hò lờ)… Lặng đi một lát, hai bên đều chờ đợi xem cái cô “lĩnh xướng” này hát thế nào. Như đắn đo, như lưỡng lự điều gì, người con gái có cái giọng chỉ nghe đã tỉnh cả người nhắc lại… anh mà không bận (ai đi hò lờ) em, em… nghiền anh ngay… 
Tiếng cười ré lên. Có anh hét tướng lên: Thật nhớ, giữ lời nhớ, không được chạy đấy nhớ. Thời ấy chỉ có hát hò đối đáp như thế, chứ nếu thơ Bút Tre mà ra đời sớm chắc sẽ làm vợi đi bao mệt nhọc đường trường. Cánh lính trẻ, đành là to gan lớn mật, lúc này lại được trí tưởng… bở kích thích còn sướng âm ỉ rất lâu sau đó. Còn là tán phét mãi không thôi. 

Đấy là gặp dân công hỏa tuyến miền xuôi. Còn gặp các cô gái dân tộc Tày, Nùng thì cũng gánh như người Kinh; còn Dao, H’Mông thì còng lưng gùi hàng. Tha hồ mà ngắm những bộ váy áo hoa văn sặc sỡ. Đuôi mắt các chàng cứ đắm đuối mãi những bộ ngực con gái căng tròn dưới làn áo bó chẽn có hàng khuy bạc của các cô gái Thái. Không trò chuyện được (vì ngôn ngữ bất đồng) thì cứ nhìn cho no mắt đã. Chỉ huy nào mà cấm được chúng tớ nhìn, chúng tớ tưởng tượng.
Để vận tải tiếp tế cho lính ta thực túc binh cường, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, duy nhất có một đại đội ngựa thồ làm nhiệm vụ thồ hàng cho chiến dịch. Mà ngựa thồ thì hơn đứt xe đạp thồ. Bởi ngựa bất chấp đường sá lầy lội, khấp khểnh, chẳng quản trèo đèo, lội suối, lên dốc, xuống dốc... 

Ông Xuân Lộc (hiện ở 14 Khương Hạ, Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội), năm 1953, 23 tuổi, đã là Chính trị viên đại đội… ngựa thồ c338 độc lập, (thuộc phòng Hậu cần khu Tư lệnh Tây Bắc). Đơn vị có hơn trăm người, 70 đầu ngựa, chịu trách nhiệm thồ hàng từ bến Âu Lâu (Yên Bái) qua Thượng Bằng La, đèo Lũng Lô, Phù Yên đến đèo Chẹn. Qua phà đèo Chẹn đến Cò Nòi, gặp đường số 6. Cung đường dài gần 150km. Lúc đi mất 7 ngày, về chỉ 4 ngày. Mỗi chuyến thồ được 70-80kg/ con. Đàn ngựa này có mấy con là chiến lợi phẩm, nếu là ngựa hay thì chuyển đến các đơn vị để cán bộ sử dụng, còn phần lớn mua của đồng bào H’Mông, chỉ dùng để thồ hàng. Lính giám mã vốn… không thích nghề giám mã, đã không được ra trận đánh giặc, lại hay bị các cô chê bai: Chồng người ra trận xung phong/ Chồng em lóc cóc làm ông ngựa thồ/ Ngựa thồ lên dốc ai ơi/ Nó bĩnh liên tục, ngửi mùi thơm không? Ruột ngựa ngắn, lại thẳng nên khi gắng sức leo dốc thường có chuyện ấy. Cái chuyện nó bĩnh ấy, cũng có cái… hay đấy nhé. Ngựa ăn thóc, ngô nhưng chỉ tiêu hóa hết 70-80% thôi. Ngô thóc nó thải ra, gà đơn vị nuôi bới ăn tha bồ béo, tha hồ đẻ. C388 của Xuân Lộc trung bình chở được 30 tấn hàng/tháng. Cứ thế nhân lên từ khi đơn vị nhận nhiệm vụ cuối năm 1953 đến hết chiến dịch cũng được trên mấy trăm tấn chứ ít gì. Để duy trì được đàn ngựa, lính giám mã phải chăm sóc: bắt mòng, ve đốt làm con vật ngứa ngáy khó chịu; chải lông, chải bờm, tắm rửa kì cọ như đứa con yêu; cho ăn đủ no, ngoài thóc phải có cỏ non, nước uống đúng lúc nó khát; nó đầy hơi, chướng bụng phải cho uống nước đường, xông hơi bồ kết… Có lần, một chú bị sa chân xuống khe cầu tre ghép. Thế là anh em phải xúm vào dỡ hàng trên lưng nó xuống, một anh quỳ lấy vai tì vào nách làm cái kích đỡ cho nó đứng lên, một người khác thì cầm cẳng chân nó rút lên, trong khi hai người tìm cách bẩy cho hai khúc tre kẹp chân rộng ra. Vậy mà xương chân nó vẫn bị dập. Thế là chú ngựa tập tễnh ba chân theo người lính giám mã vào một nhà bà con dân tộc gần đấy. Bà con bày cho cách chữa: một con gà con bằng hai vốc tay làm sạch, bỏ phủ tạng, giã nhỏ cùng với vỏ cây gạo (mộc miên) tươi, nhào với xôi nếp cũng giã nhỏ, đắp bó chặt vào xung quanh chỗ bị gãy. Sau nửa tháng chú ngựa lành.
Cũng có chuyện một chú ngựa ốm, thuốc lá bà con mách cho uống rồi vẫn không khỏi. Cả mặt trận chắc chả có ai là bác sĩ thú y, thế là đành báo cáo cấp trên cho thịt. Nhưng khi thịt phải tìm cách để các con khác không trông thấy cảnh đồng loại bị làm thịt, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cả đàn. Bởi các anh biết câu một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.

Năm diễn ra chiến dịch, từ giữa tháng tư đã có mưa sớm đầu mùa. Mưa ở miền núi thật tệ. Bao nhiêu nước từ trên núi đồi đều trút cả xuống chỗ trũng, xuống đường đi, mà đường là đường đất. Thế là lập tức thành bùn lầy nước đọng, đường thành khe, thành rãnh đất nhão nhoét mút chân người, giữ bánh xe. C338 của Xuân Lộc thì bất chấp. Ông Bùi Anh Tuấn (sinh năm 1930, quê Thái Bình, hiện ở 213/17/5 P.8 đường Lê Hồng Phong, TP.Vũng Tàu), một trong ba trung đội trưởng kì cựu ngày ấy của c338 (hai trung đội trưởng nữa là anh Bao, anh Hồng đã mất) được giao 15 con ngựa hay nhất, khỏe nhất để phục vụ khu Tư lệnh Tây Bắc (Tư lệnh trưởng là ông Bằng Giang, Trung tướng, đã mất). Chuyến ấy, ông Tuấn và ông Mộc (trung đội phó) cùng anh em đưa đoàn ngựa thồ gạo, quần áo, đường sữa và các nhu yếu phẩm khác lên gần Sở chỉ huy Mường Phăng giao cho hậu cần cấp trên xong, thì được giao nhiệm vụ thu dọn chiến trường, thồ chiến lợi phẩm về tuyến sau. Thấy có mấy chiếc lốp ôtô vứt trong bụi cây, ông Tuấn đánh bạo xin thủ trưởng một cái - Để làm gì? - Báo cáo, chúng em sẽ sẻ ra làm dép cho lính ạ! Thế thì mang về đi! 60 năm đã qua mà giọng ông Tuấn kể vẫn còn nguyên cái hớn hở, khoái chí nhờ cái táo gan của mình mà được 36 đôi dép cho anh em đơn vị.
Chiến dịch kết thúc, đại đội ngựa thồ giải thể. Ông Tuấn được cử đi Bằng Tường nhận 6 xe vận tải Môlôtôva và 2 xe Zeep và Dos chiến lợi phẩm cho Cục Hậu cần quân khu Tây Bắc.

Ôtô, lực lượng vận tải chủ lực
Toàn bộ lực lượng cơ giới quân ta thời ấy có 534 xe vận tải đều được huy động cho chiến dịch. Tuyến hậu phương sử dụng 182 xe, tuyến chiến dịch 352 xe, có thời gian được tăng cường thêm 94 xe của đại đoàn 351. Tổng số xe quân sự và dân sự là 628, với hơn 800 lái xe, 300 thợ sửa chữa, biên chế thành 16 đại đội. Ngoài thợ sửa chữa lưu động trong biên chế đại đội hành quân còn tập trung ở 2 xưởng sửa chữa là Tiền Phong và Chiến Thắng. Ngoài ra còn bố trí 3 đội sửa chữa cố định đặt ở ngã 3 Đông Lý, Tuần Giáo, 2 đội sửa chữa cơ động trên đường 41 và đường 1. Mỗi đội có 7-8 thợ giỏi. Nhờ tổ chức thế, ôtô mới đóng vai trò chủ lực trong vận chuyển hậu cần, chiếm 90% khối lượng vận chuyển, hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ cho chiến dịch toàn thắng.
Lần đầu tiên xe ôtô đi phục vụ chiến dịch, anh em lái xe hiển nhiên là oách vô cùng, nhất là trước con mắt các nữ dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong và đồng bào dân tộc. Ai được đi nhờ một đoạn thì sướng hơn cả đi máy bay bây giờ. Bộ binh có phong trào súng là vợ, đạn là con thì các anh lái xe có phong trào tăng cung, vượt tuyến, yêu xe như con, quý xăng như máu. Ban đêm chạy đèn gầm. Lái xe cũng có xẻng để cùng dân công hỏa tuyến, công binh cứu xe lầy thụt hoặc tự cứu mình.

Mỗi trung đội có 9 xe hai cầu, 1 xe một cầu. Xe một cầu yếu hơn, qua phà nguy hiểm hơn nên giao cho người giỏi nhất, hoặc chiến sĩ thi đua lái. Khi ấy có lệnh không cho xe một cầu qua phà vì sợ không lên nổi bến, tắc cả nút. Ông Đặng Huyền Phương (sinh năm 1928, Trung đội trưởng c13, d204, hiện sống ở TP Hồ Chí Minh) kể, phải kí cam kết không để xảy ra sự cố gì mới được cho xe qua. Khéo léo cho xe chạy vát nên xe vẫn lên dốc phà ngon lành. Từ đó lệnh cấm xe một cầu qua phà mới bị bãi bỏ. Về đến vị trí tập kết, mệt lử người nên ông chỉ ngụy trang qua loa. Bỗng nghe tiếng quát: 
- Ai lái xe này, từ xa đã trông rõ bốn bánh rồi, ngụy trang kiểu gì thế? 
 Ông Phương vội chạy ra chống chế: 
- Báo cáo thủ trưởng, nó bay trên cao làm sao trông thấy bốn bánh xe được ạ?
Cáu lắm, nhưng không thèm nói với lính, cấp trên gay gắt: 
- Thằng nào chỉ huy đơn vị, bảo chiều về binh trạm nhận kỉ luật.
Chiều, ông Phương lò dò lên trình diện. Thủ trưởng hất hàm:
- Chỉ huy đâu mà lái xe lên? 
Khi biết Phương là trung đội trưởng, liền đổi giọng: 
- Làm sao mà xanh xao hốc hác thế này?
- Báo cáo… suốt cả tháng trời chạy đêm, ban ngày thì căng thẳng với máy bay địch, anh em chỉ tranh thủ chợp mắt được một lúc thôi ạ. Rồi lại kiểm tra, bảo dưỡng, chặt cây ngụy trang xe nên… 

Anh em lái xe không chỉ phải đối phó với máy bay địch suốt ngày gầm rú, đánh phá chỗ nào nghi có xe cất giấu, còn phải chống lại những cơn buồn ngủ sau nhiều đêm ròng rã thức trắng, đánh vật với tay lái trên những con đường đất công binh, dân công mới làm. Đến mức anh em phải nghĩ ra cách dùng dầu cù là bôi vào mắt cho cay xè lên, để chống buồn ngủ. 
Ông cán bộ không nói gì, gọi quân mình, lệnh bắt con lợn to nhất đem xuống đơn vị. Thấy Phương về, cả đơn vị lo lắng hồi hộp chờ xem án kỉ luật thế nào. Nhưng thấy trung đội trưởng mặt mày hớn hở như bắt được của, phía sau lại có hai tay khiêng con lợn nằm ngửa tênh hênh, phơi cái bụng trắng ra, anh em reo hò ầm ĩ. “Vụ kỉ luật lợn” này loang ra các đơn vị.
Đấy chính là ứng xử của một trong hai cán bộ cao cấp nổi tiếng, “hắc xì dầu” nhất quân đội ta - Đinh Đức Thiện.

Đến giờ, tôi vẫn còn được nghe kể về những cuộc đấu trí như những trò ú tim của trẻ con nông thôn, nhưng nguy hiểm, dám mang tính mạng mình ra đùa giỡn với tử thần của các chiến sĩ lái xe Điện Biên ngày ấy. Cả đoàn được ngụy trang kín mít như một vạt rừng biết đi. Bỗng nghe tiếng máy bay “bà già” trinh sát, lập tức nép vào rừng cây bên đường, im phăng phắc. Chiếc “bà già” lượn lại, là sát xuống thung lũng soi mói tìm mục tiêu trên đường giữa lưng chừng núi. Rõ ràng là có mấy vật tròn tròn, đen đen. Đúng ôtô Việt Minh rồi. Lập tức máy bay khu trục được gọi tới bổ nhào nã đạn vào chiếc ôtô ngụy trang không kĩ.
Loạt đạn đầu không trúng. Chiếc xe này được lệnh bỏ đội hình đang ẩn nấp phóng đi. Chiếc khu trục vòng lại, lấy độ cao bổ nhào. Đang phóng nhanh chiếc xe bỗng phanh chết đứng lại làm loạt đạn bắn đón đầu cắm trước mũi xe chỉ hơn mét, cày tung đất đá lên. Chiếc máy bay lại bay đi, người phụ lái đứng ở bậc lên xuống, tay bám chắc cửa xe, người nhô lên hẳn mui xe vẫn quan sát thằng khu trục. Thấy nó vòng lại, lấy độ cao, sắp bổ nhào anh lại hô, bổ nhào đấy… phanh!

Lần thứ hai lại thoát. Lần thứ ba, tên phi công rút kinh nghiệm tính toán trừ hao thế nào đấy… chiếc xe trúng đạn, lửa bùng lên. Lái xe bị thương nhưng còn đủ sức cho xe từ từ bò xuống mép ta luy âm, mở cửa nhảy ra trước khi chiếc xe nhào xuống. Lái phụ đã kịp nhảy ra trước đó. Thủ trưởng hỏi, sao cậu cho xe lao xuống vực? – Em tính, xe đang cháy thì không cứu được rồi, nhưng những hòm đạn văng tung tóe ra sẽ không bị cháy, vẫn thu hồi được chứ.
Nhưng không phải trận nào cũng thoát. Có lần, chúng phát hiện chiếc cuối cùng chui tọt vào một khu rừng um tùm, chả còn biết đâu mà lần, liền gọi máy bay đến ném bom, bắn phá cả khu rừng… Rất tiếc tôi không tìm được thông tin gì về người lái xe Điện Biên quả cảm Lộc Văn Trọng có nhiều sáng kiến giữ xe an toàn, nhiều lần lừa được máy bay địch nên là người lái xe đầu tiên được phong anh hùng để được nghe chuyện của anh. 

Tác giả bài viết: NGUYỄN BẮC SƠN

Nguồn tin: www.vannghequandoi.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy trang webs của chúng tôi như thế nào ?

Rất đẹp

Bình thường

Rất xấu

Ý kiến khác

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng