19:24 EDT Thứ năm, 19/10/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 13

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 12


Hôm nayHôm nay : 2148

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 36944

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7549404

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Kỷ Niệm Ngày 30/4 và 1/5

Trang nhất » Trang Văn Nghệ » Trang Văn Xuôi

Tinh thần ngày cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9 bất diệt

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Lốc rừng

Thứ năm - 21/11/2013 07:59
Lốc rừng

Lốc rừng

Đám tang Tư “người rừng” không có mấy người. Chỉ có một ông thầy chùa là người lạ, còn tất cả là mấy anh em bên đồn biên phòng Tân Hòa. Đủ số cho việc đào huyệt, lấp đất và trồng lên đó một bụi cỏ làm dấu. Rồi ngôi mộ này cũng như thân phận lão thôi. Sẽ chẳng có một ai thăm viếng và nhang khói.
Lão ở đây từ hồi nào đến giờ, không ai biết, chỉ biết gọi lão là Tư và kèm theo hai chữ “người rừng”. Giữa cánh rừng già có một cái chòi nằm gác lên hai thân gỗ lớn. Có một đường xuống suối. Có một đường khác vào rừng. Từ ngày có bội đội biên phòng về đóng quân con đường mòn mới được nới rộng ra chút ít, còn trước kia, nó chỉ vừa bước chân cho một người đi.
 
Khi lớn lên, lão mới biết lão đang ở với ông bà già nuôi. Ông già nuôi lão biểu rằng: trong một lần đi giao hàng ngoài bến sông, lúc trở về thấy một thằng nhóc đặt trên cỏ, trần truồng không mảnh vải che. Thế là lão được ông già rước về. Người ngợm lão lúc đó đã sần lên những nốt muỗi chích, kiến cắn và vắt đeo. Thế mà lão vẫn cứ sống. Lão sống giống như một thứ cây tầm gởi. Mấy thằng con ông già nuôi lão rất ghét lão. Nhất là thằng Út. Nó cho rằng vì lão bú hết sữa mẹ nó nên nó èo uột, còn lão cứ phì ra, lớn hùi hụi. Trong nhà chỉ có con chị gái là có vẻ thương lão.
 
Lão không có người thân nào hết. Thân xác lão to lớn, kềnh càng, vậy mà cũng chẳng vợ con gì. Người ta kháo nhau rằng, lão không còn bộ tam sự nữa. Lão ở rừng lâu, làm nghề cưa cây vào loại thành thạo. Vậy mà ngu. Có một lần cây lão cưa tựa vào một cây khác không chịu đổ theo ý muốn. Lão điên lên vác búa chém lung tung. Một cây nhỏ uốn cong như cây cung, bị lão chém một nhát bật tung lên, quất ngay vào giữa háng lão. Lão bất tỉnh mấy ngày. Lão không chết, nhưng lão mất luôn cái thứ dùng để truyền giống nòi. Lão không buồn. Lão biểu: Cần gì. Cái giống con hoang không truyền càng tốt.
 
Chiến tranh kết thúc. Rừng đóng cửa. Tất cả các toán thợ rừng giải nghệ. Lão rút về rừng bên Việt, gác chòi sống. Hình như lão không có hứng thú di chuyển nên lão ở riết chỗ này khiến cái gì cũng kèm theo tên lão. Suối “Tư người rừng”. Phân khu Tư “người rừng”. Trảng Tư “người rừng”.
 
Minh họa: Nguyễn Đăng Phú
Lão sống bằng những thứ rừng có. Chỉ có gạo, phải nhờ anh em đồn biên phòng Tân Hòa giúp. Đôi ba lần cánh cắt gỗ lậu kêu lão nhập cuộc. Lão lắc đầu từ chối. Làm giàu lão không ham. Sống một mình giàu có mà làm gì. Không vợ, không con, chẳng phải lo. Làm đến đâu, ăn đến đó, chết là hết. Cần quái gì.
 
Sau này, khi bộ đội biên phòng lên đóng quân, cánh chiến sĩ biên phòng lâu lâu tuần tra lại ghé lão, uống hớp nước, tán ba câu chuyện và nhắc lão cảnh giác đề phòng những chuyện bất trắc. Lão không biết rằng lão giống như hơi người trong nhà hoang vậy. Có lão ở đó tức rừng có chủ. Lão làm cái việc giữ đất biên cương một cách vô tình như vậy đó. Nổi tiếng thợ rừng một thời, nên cánh thợ rừng lau nhau cắt gỗ lậu cũng kính nể lão, không dám qua mặt lão, ít nhất là ở khu rừng lão ở.
 
Lão chết, người ta mới có dịp bàn nhiều về lão. Chuyện của lão giống như chuyện hoang đường vậy.
 
Cánh rừng mà ngày nhỏ Tư  ở với gia đình lão thợ rừng có hai mắt trố lồi ra ngoài và mụ vợ đồ sộ nằm rất sâu trong rừng già bên đất Miên. Họ vào sâu như vậy nhằm tránh càng xa cuộc chiến tranh càng tốt. Ở đó chỉ có một con suối mùa nắng nước trong veo róc rách chảy. Mùa lũ nước cuồn cuộn, đục ngầu. Có một con đường duy nhất từ nơi khai thác ra bãi tập kết gỗ. Con đường này do chính những sơn tràng tạo ra. Ban đầu nó chỉ là một lối mòn nhỏ. Những chiếc xe cù cây được những người thợ tháo rời ra, mang vào tận đây mới ráp lại.
 
Những chiếc xe cù cây ấy có công mở rộng con đường ra bằng những chiếc bánh xe lăn hoài ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác. Mỗi chiếc xe cù là hai con trâu kéo. Những con trâu con nào con nấy nung núc thịt. Chúng nó được chăm sóc rất kỹ, vì nó là phương tiện duy nhất đưa gỗ ra ngoài. Thợ sơn tràng không ở nơi nào cố định. Khai thác hết khu này lại chuyển đi đến nơi khác. Rong ruổi trong rừng, họ tạo ra xã hội riêng của họ với những sinh hoạt đơn giản. Ăn, ngủ, lên rừng, cưa, chặt, về, ăn rồi lại ngủ. Chiến cuộc, thời sự họ chẳng có thời gian để mà màng tới.
 
Họ không phải đối mặt với chiến tranh nhưng lại phải đối mặt với những khắc nghiệt của rừng. Trước hết là cái nắng. Ai cũng nghĩ rằng trong rừng sẽ mát mẻ khi ngoài trời có cái nắng gắt gao. Nhưng không phải như vậy. Nắng xứ rừng đất Miên khác rất nhiều so nắng ở những miền rừng khác. Nắng hừng hực như có lửa. Gió bốc những luồng không khí khô và nóng táp xuống đất. Mặt đất khô đi rất nhanh. Lúc đó, không chỉ có không khí nóng mà bất cứ cái gì trong rừng cũng nóng lên. Lá cây héo queo. Thân cây nóng rực. Ngồi đâu cũng thấy nóng.
 
Cái nóng kéo dài từ lúc mặt trời mới mọc, đến tận nửa khuya vẫn còn nóng. Những ngày ấy, những người thợ rừng thức rất khuya. Tập thể những con người sống tách biệt chẳng có việc gì làm vào những đêm nóng nực ấy. Họ nhậu, kể chuyện tiếu lâm và hát những bài hát không đầu không cuối. Đến lúc cơn buồn ngủ kéo sập mí mắt xuống mới lăn ra ngủ.
 
 
Lúc ấy cũng là lúc những giọt sương rớt lộp bộp xuống mái lán, thấm ướt những ngọn cỏ và sũng ướt lá cây. Những người thợ rừng co quắp nằm ngủ. Dưới lưng họ, cái nóng từ đất bốc lên, hầm hập, khó chịu. Giấc ngủ của người thợ rừng vì thế mà cứ chập chờn. Sáng sau ai cũng phờ phạc. Một ngày vật lộn với những khối cây, mồ hôi tuôn ra như tắm. Bao nhiêu nước mang theo cũng không đủ. Cuối ngày, người nào, người nấy khô kiệt và mệt mỏi.
 
Nắng là vậy, còn mưa. Những trận mưa theo mùa dai dẳng đổ sập xuống rừng bất cứ lúc nào. Cũng có lúc thì trời kéo vần kéo vũ, sấm chớp nhì nhằng cả giờ đồng hồ rồi mưa mới trút xuống. Nhưng cũng có lúc chẳng cần báo trước, bỗng nhiên trời tối thui lại và sau đó nước đổ xuống. Những hạt mưa giống như những viên đá quất xuống rừng. Cây cối ngả nghiêng, lá cây bị xé nát te tua.
 
Trong rừng chỉ còn một thứ âm thanh rào rào. Nước trườn theo những thân cây, đổ tràn xuống mặt đất. Mặt đất mùa nắng bị xắt khô lại thì lúc này nước ngấm xuống biến mặt đất thành một thứ bùn sình nhão nhoẹt. Con suối mùa nắng xinh xắn, dịu dàng và trong trẻo là thế, bây giờ bỗng trở nên hằn học.
 
Con suối không còn giữ được mình nữa. Nó đã cuốn hết tất cả những gì gặp trên đường đổ ra sông. Không chỉ lá cây, không chỉ sình lầy, không chỉ xác súc vật mà chính nó moi móc những gì có thể moi móc được mà cuốn trôi đi. Cơn giận của con suối chính là cơn giận của núi rừng. Không ai có thể cản trở được cơn giận dữ ấy. Chỉ có thời gian. Khi trở về mùa nắng, tự nhiên con suối lại trở nên hiền hoà.
 
Khi cơn mưa dứt là phải vào khai thác. Không đi không được. Đường vào rừng ướt chèm nhẹp. Không một ai khô ráo. Ướt từ đầu tóc xuống đến chân. Cầm cái gì cũng trơn tuột. Mặc quần áo mà làm thì vướng víu khó chịu. Lột quần áo ra thì vắt cắn. Những con vắt như những mũi tên, búng tanh tách khi nhận ra hơi máu con người. Quần phải bó túm ống. Tay áo cũng phải cột lại. Vậy mà khi rời khỏi nơi khai thác, người nào cũng vài ba vết vắt cắn, chưa cầm được máu. Có cả những con vắt đeo lủng lẳng chưa chịu nhả ra trong khi mình nó đã no mòng máu.


Ảnh: Phạm Duy Tuấn
 
Ngày nắng chém nhát nào trúng nhát đó. Còn trời mưa, nhiều khi muốn chém một nhát phải nhớm nhứ mấy lần mới buông được một búa. Thế vẫn chưa cực bằng khi cù cây ra. Bình thường, chỉ cần ba người có thể néo được cây vào xe cù. Còn khi mưa, năm sáu người bu lại mà vẫn khó. Những cây đòn xeo khi quăng, khi quật, những chiếc chạc quấn được đầu này, đầu kia sút ra. Hì hục, nhiều khi chửi nhau toáng cả rừng mới cù được một cây. Xe cù đi , người phải đi theo. Nhiều khi trâu cũng bất lực trước con đường lầy lội. Lúc đó con người lại phải ra tay. Khi đưa được cây gỗ về bãi, mình mẩy ai cũng bê bết bùn.
 
Nhưng còn có chuyện khác kinh khủng hơn chuyện nắng và mưa ở rừng. Đó là chuyện mà cho đến hết cuộc đời mình, quên đi thôi, nhớ lại Tư vẫn cứ phải kinh hoàng.
 
 
Hôm đó vẫn là thằng Út và Tư  ở nhà. Khi cả nhà đi hết, bỗng nhiên có một con mễn con chạy xộc đến. Nó chui tọt vào trong lán và rúc vào thật sâu trong gầm sàn. Hai con mắt nó nhìn ra ngoài lơ láo. Ngay cả khi Tư  và thằng Út ngó vào, nó cũng không hề sợ hãi. Hai mắt nó vẻ như van nài điều gì. Thằng Út kêu:
 
- Mày lấy cái dây cho tao, mày.
 
- Chi vậy? - Tư  hỏi lại
 
- Bắt nó chớ chi.
 
Tư  chạy ra ngoài. Lát sau quay lại, trên tay nó là một sơi dây mũi trâu. Nó đưa cho thằng Út. Thằng Út rúc vào gầm sàn. Con mễn lúc này mới hoảng hốt bung ra. Nó thúc vào bụng thằng Út một cái làm nó bật té ngửa văng ra ngoài. Còn con mễn thì dông tuốt. Thằng Út tức tối, phóng giò đuổi theo. Nhưng đôi chân thoăn thoắt của con mễn đã bỏ xa thằng Út và lẩn ngay vào rừng.
 
Chắc con mễn chạy đụng phải ổ chó tróc nào nên tiếng những con chó tru lên nghe như ngàn tiếng rên thảm thiết. Nhưng đâu có phải chỉ có tiếng chó ở đây, mà hình như tất cả các bầy chó tróc suốt một dải rừng già này cùng tru lên. Khi gần, khi xa, khi văng vẳng khi sát bên tai. Thằng Út và Tư bỗng kinh hoàng nghe rần rần bước chân chạy thục mạng của những con chó tróc.
 
Thoắt một cái, bầy mấy chục con ào qua ngay trước mặt. Hai thằng đã từng nghe bầy chó tróc đánh gục cả con bò rừng, rồi chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, con bò chỉ còn lại bộ xương. Những con chó lông xám, có hai cái tai nhọn hoắt dựng lên, cái mõm nhọn như mõm cáo và hai chân nhỏ như chân cheo ấy là lũ tạp ăn.
 
Chúng không mấy khi đi riêng lẻ. Ở đâu là ở nguyên bầy. Bị tấn công là cả bầy xúm lại giải vây. Tất cả mọi con mồi đều là của chung. Lâu lâu chúng sát phạt nhau một trận. Đó là vào mùa động đực. Cái giống chó cái bao giờ cũng ít hơn lũ chó đực. Nên mùa nào chúng cũng có một trận hỗn chiến. Sau trận hỗn chiến, ngay cả con chiến thắng cũng bấy bá thân xác. Nó phải nghỉ ngơi cho dịu cơn đau rồi mới bắt đầu nhâm nhi thắng lợi bằng cách lại gần con cái và i ỉ rên.
 
Con cái làm như thương nó lắm, liếm láp những vết thương cho nó rồi vểnh đuôi lên, thưởng cho nó một cuộc ái ân trọn vẹn. Nhưng hôm nay nhất định không phải là cuộc sát phạt vì con cái. Cả bọn hướng về một phía chạy thục mạng. Con nào con nấy cong đuôi lên, hùng hục sải những bước dài về phía trước, bất kể trước mặt có gì. Bụi gai, hốc cây, bờ cỏ… chúng bương qua hết. Chúng vừa chạy vừa tru lên những tiếng man dại. 
 
Thấy bầy chó tróc, Tư và thằng Út vội vã leo lên cây sộp trước lán. Khi bầy chó chạy đã xa, những tiếng tru đã hút vào sâu trong rừng, hai thằng mới lò dò tụt xuống. Đầu óc non trẻ của hai đứa không thể hiểu được chuyện gì đang xảy ra.
 
Cũng lúc đó trên bãi khai thác khi một cây sao cỡ hai người ôm vừa được hạ xuống thì lão thợ rừng bỗng ngừng tay, dỏng tai lên nghe ngóng. Ở đây cũng nghe tiếng chó tróc hú. Một bầy ong ở đâu bỗng ào đến như cơn lốc. Chúng đeo lên một cành cây, con nọ cắn đuôi con kia thành một chiếc nong lớn nhung nhúc, cựa quậy. Nhưng những con bám vào cành cây phía trên không chịu đựng được sức nặng của cả bầy, chúng lại túa bay đi. Cả bầy ong làm thành một đám mây đen kịt cả một khoảng trời. Sau bầy ong là đến bầy chim. Chúng vừa bay loạn xạ, vừa cất những tiếng kêu khắc khoải. Lão thợ rừng la lên:
 
- Nghỉ, về bay ơi!
 
Cả bọn ngạc nhiên. Trời đang đẹp thế này sao lại nghỉ. Có người hỏi lão. Lão phát bẳn:
 
- Tao biểu nghỉ là nghỉ, hỏi chi nhiều.
 
Nói xong lão tháo cây cưa ra, vác lên vai, tong tả bỏ bãi khai thác ra về. Những người trong toán cũng vội vã dọn đồ về theo.

Ảnh: Phạm Duy Tuấn
 
Lão về trong lúc Tư và thằng Út đang ngồi sát lại nhau. Trước mặt chúng là hai con trăn đang quấn vào nhau trong một trận đấu vào hồi quyết liệt. Hình như con nào cũng muốn dùng sức mạnh của mình vặn xoắn để giết chết kẻ thù. Hai cái đầu được giấu kín trong thân mình, chỉ thấy những khúc thịt vằn vện xoắn lấy nhau, không rời. Hai con làm thành một đống lu lù ngay trước mặt hai thằng nhỏ. Rồi bỗng vút một cái hai con trăn rời nhau và quăng mình treo vắt vẻo trên hai cành cây. Đầu trăn trên cây còn cái đuôi thì uốn éo ngay sát mặt đất. Rồi từ hai cây này, hai con trăn quăng mình sang cây khác và biến mất giữa ngút ngàn rừng xanh.
 
Hai thằng gần giống như hai con trăn. Chúng vòng tay ôm lấy nhau như để bảo vệ cho nhau. Thấy những người lớn đã về, chúng mừng hết lớn. Hai thằng tranh nhau kể chuyện bầy chó, chuyện con mễn và bây giờ là chuyện hai con trăn. Giọng chúng còn run, nghe cả tiếng những chiếc răng của chúng va vào nhau lập cập. Lão thợ rừng kêu hai thằng:
 
- Bay sang lán của anh em. Kêu tất cả tập trung lại đây nghe tao biểu.
 
Hai đứa nhớn nhác không dám nhúc nhích. Lão thợ rừng nổi đoá:
 
- Bay có đi không thì biểu?
 
Hai đứa thấy lão trợn mắt vội vàng dắt nhau chạy đi.
 
Lán bên, anh em đã về cả. Cho đến lúc này họ vẫn không biết vì sao lão thợ rừng lại bỏ dở cuộc khai thác hôm nay. Người cằn nhằn, người văng tục chửi thề. Bảy người này kết với gia đình lão thành một nhóm. Chỉ có lão là người từ Việt Nam qua làm sơn tràng. Còn lại tất cả đều là người theo gia đình lưu lạc sang xứ Miên này sinh sống.
 
Người thì cho rằng sang xứ Miên có thể dễ kiếm sống hơn. Người thì chạy trốn khỏi mảnh đất chiến tranh liên miên. Rừng là thứ dễ đục khoét nhất nên mới hình thành những cánh thợ như họ. Ai cũng đã có một gia đình. Gia đình họ sống ven con đường từ Tây Ninh sang Công- pông- chàm. Ở đấy họ có vợ, có con và có một chút gia sản là những mảnh nương chỉ có thể trồng trọt vào mùa mưa.
 
Người già, người trẻ của gia đình tất cả nhờ vào những ngày lặn lội của họ trong rừng xanh núi thẳm. Nên họ phải nghe lời lão thợ rừng để từ lão thợ rừng kiếm chút ít kinh nghiệm còn tính chuyện nay mai tách đi làm riêng chỗ khác. Lão thợ rừng không giấu giếm chuyện gì. Có gì lão cũng nói hết. Ai hỏi cũng nói. Lão biết lão không thể chui rúc trong rừng suốt cuộc đời được. Mà rừng thì bao nhiêu hiểm nguy. Lão không muốn ai bị sơ xẩy trong lúc sống chui, sống nhủi trong rừng.
 
Họ tụ về lán của lão thợ rừng. Sao hôm nay lão có vẻ trịnh trọng thế. Lão mang đầy đủ quần áo trên người. Lão ngồi trên một khúc cây. Bên cạnh lão là hai thằng con trai, đứa con gái và Tư Rỗ. Như thế biết ngay rằng lão đang muốn nói chuyện với những người thợ rừng. Lão không nói mà lão kể. Chuyện của lão giống y như một chuyện cổ tích. 
 
Rằng ngày xưa, con người ta sống chung với muông thú. Hồi đó có những con chim to như con bò và có những con bò nhỏ như con chó. Ban đầu loài người và muông thú sống với nhau hòa thuận lắm. Không ai xâm phạm ai. Nhưng trời sinh ra muôn loài. Có loài ăn thịt, có loài ăn cỏ. Chỉ có loài người là biết ăn cả thịt và cỏ.
 
Vì thế lâu lâu con người lại lén trời giết thịt một vài con thịt cho bữa ăn của mình. Muông thú giận lắm, mới kiện lên trời. Trời mới phán rằng, trong các loài vật thì loài người là giống gần với trời nhất, nên tất cả mọi loài vật sinh ra là để cho con người dùng. Thật bất công. Loài vật bèn tìm cách sống làm sao cho giống loài người. Chỉ thương cho mấy giống vật ăn cỏ. Nhưng lại thỏa mãn cho giống ăn thịt.
 
Chúng cũng làm như loài người. Cáo thì ăn thịt gà. Sói thì ăn thịt thỏ, lúc đói ăn thịt cả nhau. Cọp ăn thịt bất cứ con gì ngang qua mũi nó. Sư tử khi cần cũng có thể giết cả hổ làm đồ ăn. Tất nhiên, con người cũng là thứ đồ ăn sang trọng cho lũ thú ăn thịt. Đến cả chó cũng có thể vật cổ con người xuống, cắn đứt cuống họng rồi nhai nghiến ngấu cả xương.
 
Loài người bị tấn công nhiều nhất. Vì loài người lúc đó chưa biết dùng đến những thứ vũ khí tự vệ. Mà răng thì không bén như răng hổ, vuốt không sắc như sư tử, và cánh tay thì không thể bằng đôi chân của những con thú mạnh mẽ, to lớn. Con người mới kiện lên trời. Trời thương con cháu mình mới họp tất cả muông thú và loài người lại, dạy cho con người làm cung nỏ, gươm giáo để phòng thân. Trời còn ban cho loài người được sống ở những cánh đồng mênh mông trù phú.
Còn loài thú thì trời bắt phải sống ở trong rừng sâu, không được phép đến xứ sở loài người. Chuyện tưởng như thế là xong. Đâu dè, giống người là giống khôn ngoan. Về dưới đồng bằng rồi vẫn cứ thèm thịt muông thú. Những thứ như cung nỏ, gươm giáo mà trời dạy cách làm để tự vệ, thì loài người biến nó thành thứ vũ khí săn bắt muông thú. Loài người lại vào rừng. Họ đi cả đoàn và xem việc săn bắt muông thú là một trò chơi thú vị. Không biết cơ man là thú bị diệt làm mồi cho bữa ăn của con người.
 
Loài thú giận quá, bèn lại kiện lên trời. Trời không những không bênh loài thú mà còn phán rằng: Ta đã nói, loài người được phép dùng tất cả những gì mà ta tạo ra dưới gầm trời này. Loài thú ngậm ngùi ra về. Chúng chạy trốn thực sâu vào trong rừng để tránh những cuộc săn bắn của loài người. Nhưng chúng càng chạy sâu thì loài người càng lấn tới. Họ phá rừng cho dễ tìm con mồi. Những nơi họ phá ra, họ biến thành đồng ruộng hết để con thú không thể về mà săn họ.

Ảnh: Phạm Duy Tuấn
 
Uất ức vô cùng, nhưng loài thú không có cách nào để đòi lại những vùng đất đã mất. Một hôm, ba chúa tể của rừng là hổ, sư tử và voi ngồi lại với nhau. Những loài thú khác chầu chực để chờ đợi phán quyết của ba vị chúa sơn lâm này. Ba vị chúa tranh cãi rất lâu mà không tìm ra cách để chống lại loài người. Voi giận dữ rống lên. Hổ và sư tử cũng gầm lên. Loài thú ngỡ đó là hiệu lệnh tấn con người, thế là chúng lồng lên xông thẳng xuống những cánh đồng của loài người.  
 
Loài người khôn ngoan biết thế nào cũng đến lúc đó nên đã rào dậu kỹ càng, vũ khí sẵn sàng. Loài thú bất lực, không còn cách nào khác, quay lại cãi lộn và xông vào nhau mà cắn xé. No say máu và thịt, chúng lại kéo nhau về rừng, chờ thời. Càng chờ thời con người càng khôn ngoan hơn. Mọi giận dữ của muông thú cuối cùng vẫn chỉ là trút lên đầu nhau. Lâu lâu lại có một cuộc giận dữ như thế. Người ta gọi những cơn giận của thú rừng là động rừng.
 
Kể xong câu chuyện đó, lão thợ rừng mới nói:
 
- Sắp động rừng đó. Từ hôm qua tao đã ngờ ngợ. Mũi tao thấy có những mùi tanh rất lạ quanh đâu đó. Nhưng tao chưa dám chắc, sáng nay thì rõ lắm rồi. Từ giờ đến chiều, bay phải làm một cái cũi lớn. Không được có một khe hở nào hết.  Hễ động tất cả chui vào đó. Chèn cho kỹ, nếu không sẽ thành mồi cho chúng nó ăn thịt, nghe chưa? 
 
Không một lời bàn cãi. Cả bọn vào cuộc. Chốc lát sau, họ đã chất ngay giữa nơi đang ở một đống gỗ. Cây nào cũng bằng bắp vế. Những cuộn dây mây cũng sắp thành đống. Họ đào những cái lỗ thực sâu để chôn những cây cột cái. Những cây gỗ được kè lại và cột lại với nhau bằng những sợi mây dẻo quánh. Một cái cũi có thể nhốt bốn con trâu cồ và hơn chục mạng người chóng vánh hoàn thành. Đêm tối mới là lúc đáng sợ. Một ngọn lửa le lói là có thể thành mục tiêu cho những cuộc ném bom của máy bay Mỹ. Mà không có lửa thì chẳng thể xua được thú rừng. Họ phải cắt thêm những cành cây trung quân phủ lên trên, để có phải đốt lửa cũng không lọt ánh sáng ra ngoài.
 
Đến chiều công việc tạm xong. Bữa cơm chiều diễn ra trong một không khí phập phồng lo sợ. Cơm xong, lão thợ rừng kêu vợ con lại. Gương mặt căng thẳng của lão khiến vợ con không dám hó hé một lời. Mụ vợ thường ngày chao chát nói không ngớt miệng, hôm nay cũng nín khe. Thằng Út nép vào lưng cha. Cô con gái nép vào lưng mẹ. Cả bọn chờ xem lão thợ rừng sẽ nói gì. Trong tay lão là một con rựa sắc như nước. Hình như ngay từ lúc này lão đã cầm trong tay thứ vũ khí có thể tự bảo vệ mình. Lão nói:
 
- Bay phải biết nếu tao không xích mích với thằng cảnh sát ở quê thì tao không lên rừng làm gì. Con mẹ chúng mày biết nghe lời tao thì tụi bay chẳng phải lòi ra ở chốn rừng xanh núi đỏ này. Bấy lâu nay, tao đã kiếm được khá tiền. Tao đã biểu dưới nhà xây được một căn nhà nhỏ. Tao không còn muốn ở rừng nữa. Ngán lắm rồi. Tao là tao nói hết thảy mọi đứa. Nhưng tao có lời riêng với thằng Tư . Nếu bay muốn thì theo tao về dưới, sống với tao. Bằng không tao gởi bay lại cho anh em.
 
Tư nghe mà buồn. Đã có lúc Tư chặc lưỡi: đã là phận con hoang thì ở hoang cho rồi. Nhưng nghĩ lại, nếu không có vợ chồng lão thợ rừng thì đâu có nó hôm nay. Lúc này nó không thể rời xa gia đình lão thợ rừng được. Lão thợ rừng vẫn tiếp:
 
- Chỉ có người giận người chớ đất đâu có giận ai. Chuyện tao với thằng cảnh sát để đó tao lo. Vì tụi bay tao chấp nó. Vả lại, nó cũng đã hết thời rồi. Già ngắc không học hành gì. Thượng sĩ già miết, nghỉ rồi. Mà nó nghỉ rồi có gì đáng sợ nó nữa đâu. Mà nếu cần tao cho nó một dao, tao ở tù. Bay có vốn liếng nuôi sống nhau được rồi. Nhưng tao biết, thù nên cởi chớ không nên buộc. Chắc nó cũng chẳng còn thù tao chuyện ngày đó nữa đâu.
 
Là lão nhắc đến chuyện ngày xưa ở Phú Khương lão có bén tiếng với một cô gái. Nhưng cô gái lại theo thằng cảnh sát. Lão điên lên xách dao kiếm thằng cảnh sát, chém một nhát rồi trốn biệt lên rừng. Ngày về cưới vợ, thằng cảnh sát cho người bao vây, tính bắt lão trả thù. Nhưng lão lại tìm nó trước. Nó vừa về đến nhà, đã thấy lão lù lù ngồi giữa nhà. Vợ con nó ngồi tím mặt trong một góc. Vừa thấy mặt nó, lão vung dao chém mạnh. Một góc bàn đá bay mất. Lão dơ dao chỉ mặt thằng cảnh sát:
 
- Tao về cưới vợ. Cưới xong tao đi liền. Mày đừng dở trò. Tao mà có làm sao, bọn thợ rừng bạn tao về cắt đầu này cho chó gặm, nghe chưa…

Ảnh: Phạm Duy Tuấn
 
Thực hiện đúng lời nói ấy, cưới vợ xong, lão mang vợ lên rừng ở.
 
Hôn nay, lão nói bằng một giọng hiền lành chưa từng có. Từ xưa đến giờ, chưa bao giờ lão nói nhiều như hôm nay. Lão nói đến chuyện làm ăn dưới quê. Nhà cạnh bến sông Cẩm Giang. Buôn trên bờ, bán dưới bến chắc không đến nỗi chết đói đâu mà sợ. Giọng lão đều đều như nói vào khoảng không chớ chẳng nói với ai. Hai mắt vốn dĩ lồi ra thì hôm nay, nó được khép bớt lại. Cả nhà nghe lão nói, mỗi người theo đuổi một tâm trạng khác nhau.
 
Chiều ập xuống cũng như mọi khi. Ráng đỏ ở đâu đó làm cho rừng sáng thêm chút nữa rồi kéo sập màn đêm xuống. Đêm nay quả là lạ lùng. Suốt một ngày trời, sau những chuyện kỳ dị, không thêm chuyện gì khác nữa. Nhưng khi đêm xuống, lại thấy những sự khác thường. Những con chim ăn đêm hình như không rời tổ. Tiếng những con mang, con mễn mọi đêm choang choác, đêm nay tịnh không thấy. Con nai cũng không tác như mọi đêm. Gió cũng không có. Lặng im như tờ.
 
Mọi đêm, giờ này cánh thợ rừng có khi còn lai rai bên bếp lửa và can rượu. Nhưng hôm nay, không ai thiết nghĩ đến rượu chè nữa. Họ đã rút về lán, nằm trằn trọc lắng nghe những biến động của rừng. Tịnh không. Sương buông xuống. Những giọt sương rớt lộp bộp xuống mái lán, tạo ra những âm thanh đều đều buồn tẻ. Thỉnh thoảng có tiếng những con trâu lắc đầu xua muỗi, sừng va cồm cộp vào những cây gỗ kết làm thành cũi ngoài kia.
 
Từ chiều Tư  đã dắt nó nhốt vào trong đó để lỡ có động rừng thì chỉ cần chạy con người thôi. Mọi người thì rúc vào lán, Tư chui vào chỗ của mình cạnh một gốc cây cổ thụ như mọi khi. Nghĩ đến bầy chó tróc, nghĩ đến con mễn, nghĩ đến hai con trăn, Tư cũng thấy sờ sợ. Nhưng nó không quen ngủ chung với mọi người từ hồi nào đến giờ, nên nó vẫn cứ ra chỗ của nó. Nó gác vào trong bọng cây mấy khúc gỗ, chẻ cây le ken lại thế là có chỗ ngủ qua đêm.
 
Khó ngủ thực. Những ý nghĩ mông lung cứ néo trong đầu nó. Chuyện về rừng động đối với nó giống như chuyện hoang đường. Làm sao lại có thể cùng một lúc những con thú trong rừng điên lên như vậy được. Những ngày ở rừng, Tư  cũng đã nhiều lần theo mấy ông thợ đi săn. Chỉ thấy thú rừng chạy trốn người ta, có thấy con nào rượt đuổi người ta đâu. Tinh ranh như con rắn, quẫn quá nó mới quay lại phóng bừa vào người, rồi sau đó cũng tìm đường trốn biệt.
 
Nó chưa thấy hổ, chưa thấy sư tử bao giờ. Mang, mễn, nai… đôi khi cũng thấy, nhưng cũng ở xa xa. Vậy mà khi không nó lại nổi điên lên tấn công nhau hay sao. Còn chuyện trong rừng thú này ăn thú kia là chuyện bình thường có gì đâu mà lạ. Mèo rừng đương nhiên phải bắt chuột rừng. Cú mèo không săn chuột thì săn cái gì. Nó thích cái chuyện lão thợ rừng kể, nhưng nó chẳng hiểu ông kể chuyện đó để làm gì. Cuối cùng chỉ làm cho mọi người hoảng hốt thôi. 
 
Những người bên lán bên kia cũng trằn trọc không ngủ. Mỗi người hình dung ra một chuyện quái dị khác nhau. Họ tin rằng lão thợ rừng cũng chưa bao giờ thấy động rừng đâu. Nhưng không nghe lão không được. Ít nhất thì lão cũng là người ở rừng đã sạn chai cuộc đời. Lão nói cái gì có thì ắt sẽ có. Nhưng có như thế nào làm sao biết được. Gần sáng, tất cả mới lịm đi trong giấc ngủ.
 
Giấc ngủ đang nồng thì mọi người bị dựng dậy bởi những tràng súng vang lên. Tiếng súng nổ như tiếng sét đánh ngang tai. Tất cả bật dậy. Những tiếng nói lạ tai vang lên. Duôn! Duôn! Duôn!… Họ vọt ra khỏi lán. Tưởng động rừng. Họ nhao tới cái cũi mới làm xong chiều qua. Nhưng, những tiếng súng vang lên. Một người chúi ngã và quằn quại trong vũng máu. Đó là ông thợ thua tuổi lão thợ rừng nhưng lớn tuổi hơn tất cả. Cùng lúc đó, Tư  nghe tiếng lão thợ rừng hét váng lên, tiếng lão như tiếng sấm gầm:
 
- Chạy đi, Miên cáp duồn .
 
Tư Rỗ cũng muốn vọt ra, chạy trốn. Nhưng, nó quay phắt lại, chui tọt vào trong bụng cây cổ thụ. Trong ấy có một cái bọng. Mối đã đục ruỗng thân cây và tạo ra cái bọng đó. Nó chui vào đấy và tỳ hai khuỷu tay, đạp mạnh hai chân leo lên giữa thân cây. Ở đó, có một chỗ có thể gác hai chân lên, bám hai tay và tựa mông vào mà trụ vững được. Ở đó cũng có một cái seọ cây đã mục, rớt mất từ hồi nào, tạo ra một cái lỗ có thể quan sát được bên ngoài.
 
Vẫn những tiếng súng vang lên. Qua cái lỗ tròn ấy, Tư  thấy lố nhố một bầy người. Áo đen, quần đen và khăn xà nút quấn cổ. Chiếc nón tai bèo cũng đen treo sau lưng. Chúng chạy lăng xăng. Súng trong tay, lâu lâu lại làm cái rẹt. Những viên đạn đuổi theo những người đang chạy trốn. Cũng những viên đạn ấy, níu chân tất cả những người thợ rừng. Họ không dám bước thêm một bước nào nữa.
 
Lũ người áo đen thúc mũi súng vào lưng từng người đẩy họ ra giữa bãi trống. Một bọn khác đang chui vào lán của lão thợ rừng. Thằng Út bị đạp một cái văng ra ngoài, chúi mũi xuống đất. Tiếp sau là con chị ba. Hai thằng xốc nách hai bên, kè cổ ra. Rồi đến thằng anh hai. Anh ta vừa bị đạp, vừa bị những báng súng thúc vào người. Gần như anh ta phải lăn ra theo những cú đạp của bọn áo đen kia. Mụ vợ lão thợ rừng vẫn là kẻ hung hăng. Chắc mụ biết không thể sống được nữa, nên dù bị đánh đập liên tục, mụ cũng tru tréo lên:
 
- Tụi bay không phải là người. Tụi bay còn ác hơn xúc vật. Đ. má. Tao làm ma, tao cũng lên vật cổ chúng mày. Chó, heo đẻ ra tụi bay. Quân khốn nạn.
 
Trong lúc mụ chửi thì tụi kia hố hố cười, chúng có hiểu mụ nói gì đâu. Một thằng giật cánh tay mụ toan trói lại. Nó đâu có biết sức mạnh của mụ. Mụ văng mình một cái, thằng kia bắn vọt ra xa. Tiện thể, mụ tung một cú đạp vào thằng trước mặt. Thằng này tránh không kịp, rú lên một tiếng rồi nằm dãy đành đạch tưởng chết. Mụ túm ngay được một khúc cây. Đòn thứ ba của mụ trúng ngay mạng sườn một thằng. Thằng này cũng gục xuống. Một thằng giương súng lên. Nhưng có một thằng khác gạt khẩu súng sang một bên.
 
Hắn đến trước mặt mụ đàn bà. Mụ đang trong cơn điên phang xuống hắn một gậy. Nhưng thằng này có nghề. Đầu gậy chưa kịp trúng hắn thì hắn đã đánh bật cây gậy ra khỏi tay mụ. Rồi bằng một động tác gọn gàng, hắn gồng lên quật cả đống thịt đồ sộ của mụ xuống đất. Cả bọn xúm lại đè mụ xuống trói quặt hai tay mụ ra phía sau.
 
Bọn chúng có đến hơn hai chục thằng. Trong lúc mấy thằng loay hoay với mụ vợ lão thợ rừng thì những tên kia đã trói hết tất cả những người thợ rừng lại. Những tiếng súng đã im. Bây giờ chỉ còn những tiếng cười man dại của đám người áo đen kia. Chúng chưa vội  xử những người đã bị trói. Chúng bày ra mặt đất những gì chúng mang theo. Rượu. Chỉ có rượu.
 
Tư Rỗ nhìn thấy hết. Bụng nó đang run lên. Hai hàm răng nó đang đánh vào nhau lập cập. Hai chân nó ngoặc vào khe hở trong bọng cây mỗi lúc một tê dại và đau nhói. Nhưng nó không dám kêu, không dám khóc. Không dám làm gì hết. Chỉ sợ một tiếng động phát ra là ngay lập tức số phận nó cũng không khác gì những người dưới kia. Chúng lấy ngay những chiếc chén của những người thợ và đổ rượu ra uống. Một thằng bỗng đứng dậy. Tay nó cầm một con dao. Nó đến từng người.
 
Việc của nó là lần lượt thọc dao vào những người bị trói. Nhưng nó không giết một ai mà chỉ làm cái việc rọc rách tất cả quần áo của họ và túm những mảnh vải rách ném ra một góc. Tội cho cô chị thứ ba. Cô rúm người lại, hai mắt dại đi khi thấy mình lõa lồ trước một bầy đàn ông. Còn mụ vợ lão thợ rừng thì trợn mắt lên. Mụ không thể chửi được nữa vì miệng đã bị nhét chặt bằng một miếng dẻ cắt ngay từ quần áo mụ.
 
Phía xa hơn một chút, người thợ rừng bị bắn chết vẫn nằm sõng xoài, không ai ngó ngàng tới. Không thấy lão thợ rừng đâu. Không lẽ sau khi hét thất thanh, lão đã nhanh chân chạy thoát. Hay lão đã bị bắn chết trong lán. Tư Rỗ băn khoăn và cầu mong lão thoát khỏi những bàn tay hung hãn kia. 

Ảnh: Phạm Duy Tuấn
 
Bọn chúng hình như đã say men rượu rồi. Đã có mấy thằng cởi bỏ quần áo. Cơn dục vọng đã lên cao, không chịu nổi nữa, chúng xúm lại bên mụ vợ lão thợ rừng. Vài thằng đè chặt chân tay mụ. Một thằng nhẩy lên người mụ. Bỗng nhiên có tiếng thét vang trời:
 
- A…a…a...!
 
Lão thợ rừng bỗng từ đâu đó trong rừng vọt ra. Trong tay lão là con dao bén ngọt. Cả bọn đang cơn hăng máu không kịp trở tay. Lão chém xuống thằng đang phủ lên người vợ lão. Đầu thằng này bị chẻ làm hai như trái dừa bị bổ. Lão nhảy dựng lên, vung dao chém xuống thằng chỉ huy. Nhưng dao không trúng đích. Thằng đứng kế bên lãnh trọn lưỡi dao vào vai. Một cánh tay nó rũ xuống.
 
Lão phạt ngang một dao nữa. Thêm một thằng dính đòn. Lưỡi phát ngang lưng nó khiến nó rống lên đau đớn. Nhưng tất cả chỉ có thế. Gần một chục thằng xáp lại. Thằng xô, thằng đẩy lão té xấp xuống. Chân tay lão không còn cục cựa được nữa. Thằng chỉ huy gầm lên. Nó vớ ngay được con dao của lão thợ rừng vung lên. Một nhát dao chém ngang mặt lão. Nó chém nhát thứ hai, thứ ba, rồi túi bụi. Lão thợ rừng trong chốc lát chỉ còn là cái xác nát bấy...
 
Cả bọn thấy máu bắt đầu say. Chúng chạy quanh tìm những thứ có thể thay cho khẩu súng. Thằng cây gậy, thằng lưỡi búa. Thằng cây rựa. Có thằng còn xách cả cây đòn xeo. Chúng bắt đầu một cuộc tàn sát man rợ. Chúng coi những người bị trói kia như những cục thịt. Cứ thế chúng bổ xuống. Ban đầu có có những tiếng la, tiếng hét của những người đang bị hành hạ. Nhưng rồi chẳng còn lấy một tiếng rên la. Khi đã chán chê, chúng lấy dao mổ phanh bụng hai người đàn bà ra, rồi rút quân.
 
Tư Rỗ đã xỉu đi ngay từ lúc chúng thằng chỉ huy chém nhát dao đầu tiên vào lão thợ rừng. Hai chân ngoắc vào khe hở trong bọng cây khiến nó không rớt xuống được. Nó chỉ tỉnh lại khi bỗng nghe tiếng bầy chó tróc nhí nhách sủa. Nó ghé mắt qua cái lỗ sẹo của cây. Một cảnh tượng còn khủng khiếp hơn đang diễn ra trước mặt Tư Rỗ. Bầy chó tróc đang tận hưởng một bữa thịt người no say.
 
Tư tưởng mình đã chết, tưởng mình đã xuống đến chín tầng địa ngục, thấy bầy quỷ mặt đen, mặt trắng, đầu trâu mặt ngựa đang hành xác con người. Bất lực, Tư  ghé miệng vào cái lỗ hét lên:
 
- A….
 
Tiếng “a” lảnh lói vang đi rất xa, và nó thấy bầy chó tróc tạm ngưng chuyện xâu xé, ngóc cổ lên, dỏng hai cái tai nhọn hoắt nghe ngóng. Bầy quạ nghe tiếng hét cũng hoảng loạn bay ào lên, nhưng rồi không thấy gì là nguy hiểm lại xà xuống bu đen trên những ngọn cây. Tư  hét thêm một tiếng nữa. Tiếng hét này mạnh hơn tiếng hét trước, dài hơn và quyết liệt hơn. Tư  nhìn xuống hy vọng lũ chó chạy đi. Nhưng không, bọn chúng không dễ gì bỏ những miếng mồi ngon trước mặt. Trong khi đó, cả chục con khác hướng theo tiếng mà hồng hộc chạy tới. Chết rồi, bọn người Miên kia có thể không nhận ra chỗ ẩn nấp của Tư chớ bầy chó này, nó đánh hơi giỏi lắm, coi chừng…

Ảnh: Phạm Duy Tuấn
 
Quả nhiên, chẳng khó khăn gì, chúng đã nhận ra cái bọng cây có người. Chúng vây lấy cái cây cổ thụ và lóc chóc sủa. Thêm một lần nữa Tư kinh hoàng. Đã có những con chó đánh hơi thấy nơi Tư  đang ẩn nấp. Chúng ào tới bới móc tìm đường chui vào bọng cây. Hết. Hết thật rồi. Tư  lại hét lên. Thà rằng bị người đập chết còn hơn chết trong nanh sắc của bầy chó này.
 
- Đoàng, đoàng.
 
Hai phát súng nổ. Không lẽ bọn chúng quay lại? Không phải, tiếng súng này là của những người thợ săn. Tiếng súng nổ rất to, không đanh và không chết chóc như tiếng súng của đám người Miên kia. Bầy chó dưới gốc cây đã bỏ chạy. Tư  lại nhìn ra. Hai người thợ săn đã từng đến lán của lão thợ rừng nhậu chơi vài lần. Ba người còn lại, Tư nhận ra trong đó có một người cầm đầu cánh thợ rừng ở cách họ chừng non nửa ngày đường. Tư tụt xuống. Nó chỉ còn sức bước vài bước ra khỏi gốc cây. Trời đất quay cuồng và Tư té xấp mặt xuống đất lịm đi. Không biết đã lịm đi bao lâu. Khi tỉnh lại, những người kia vẫn đang ngồi cạnh Tư.
 
Ông thợ rừng lại bên nó hỏi:
 
- Con tỉnh hẳn chưa?
 
Tư  lẳng lặng gật đầu.
 
- Con tỉnh hẳn đi. Rồi ra nhận xác mọi người, để chú còn chôn họ.
 
Lỗ huyệt đào ngay trong cái cũi mà cánh thợ đã làm bữa qua để phòng động rừng. Những con trâu đã bị bọn kia dẫn đi. Ông thợ rừng kêu mấy anh em đưa những xác người xuống đấy. Ông nói với Tư:
 
- Bây giờ con nhớ cho kỹ nghe. Con nhìn về hướng mặt trời lặn. Chú sẽ chôn mọi người lần lượt như thế này. Từ trái qua phải là ba con, má con, anh Hai con, chị Ba con và thằng Tư. Tiếp theo là xếp theo thứ. Ông Hai, cậu Hai, hai cậu Bảy, và cuối cùng là cậu Út. Con nhớ, nay mai có về dưới, kiếm người nhà họ lên đây mà hốt cốt mang về.
 
Tư  hiểu rằng họ chôn những xác người vào cái cũi kia là để tránh lũ chó rừng thêm một lần nữa bới xác họ lên mà xâu xé. Những người thợ của lão thợ rừng đâu có ngờ rằng họ làm cái cũi này chỉ để bảo vệ được cái xác họ thôi. 
 
*
*    *
 
Đám tang Tư “người rừng” diễn ra chóng vánh. Một nấm đất mọc lên giữa rừng xanh mênh mông. Thế là xong một kiếp người. Nấm đất chôn vùi vào dĩ vãng tất cả những chuyện của Tư. Sẽ chẳng ai bàn gì đến chuyện của lão nữa. Rừng vốn tồn tại như vậy. Mọc thêm một cây hay chết đi một cây thì rừng vẫn cứ như vậy.
 
Ngay sau đó, đồn biên phòng Tân Hoà phải tổ chức một tổ chốt ngay tại cái lán của Tư ”người rừng” ở. Bấy lâu nay Tư người rừng ở đây, có một góc rừng yên tĩnh.

Tác giả bài viết: NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Nguồn tin: www.vannghequandoi.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy trang webs của chúng tôi như thế nào ?

Rất đẹp

Bình thường

Rất xấu

Ý kiến khác

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng