00:25 EST Thứ tư, 13/12/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 25

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 646

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 24260

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7669139

Kỷ Niệm Ngày 22/12

Kỷ Niệm Ngày 22/12

Trang nhất » Trang Văn Nghệ » Trang Văn Xuôi

Gặp mặt truyền thống hội đồng ngũ sư đoàn 316

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Một… hai… ba… bốn!

Thứ năm - 19/09/2013 08:45
Một… hai… ba… bốn!

Một… hai… ba… bốn!

Bây giờ về hưu rồi, nhà ở gần nhau, họ là đồng đội. Cách đây gần năm chục năm lúc nhập ngũ, cùng là binh nhì, bất ngờ, khi làm quen với hai tiếng “đồng đội”.
Chuyện đãi ngộ bấy giờ, coi ra đã khác xa. Vợ của ông Dân vô tư trả lời, với ai có dịp hỏi: “Ông Dân bố cháu… ơn trời, thì lương cũng gần chục triệu”. Hỏi đến tay Hưng ngồi sửa xe bên kia đường, cái miệng hay hồi ký “thời tôi làm pháo thủ” định không nói, không muốn dây vào kẻo lại phải ăn những lời khó nghe. Phì! Đếch xì cái lão dẻo quẹo cái miệng… Đánh đấm quái chi… Đó là kịp nghe bà vợ Dân nói, lương thương binh của chú Hưng chỉ bằng một phần ba của bố nó thôi. Lạ thật, ai biết được số phận thế nào!

Nhưng mà họ ở chung con đường ra phía cầu sắt, nơi mà ngày xưa là biểu tượng cho lòng dũng cảm của người lính cao xạ. Hưng nói với người khách nhờ sửa xe, giọng vẻ hơi phóng đại, không ngày nào chúng tớ không bắn máy bay. Nếu thế mình các ông bắn rơi hàng ngàn chiếc kia à. Mà ông nói, ở đó hàng chục năm hóa ra có tới ba ngàn ngày bảo vệ cầu, mà không chết? Thì vẫn, sống nhăn răng ra đấy thôi, chứ chết lấy ai mà vá xe cho chú mày hỉ? Lão Hưng cười hố hí, có vẻ xí xóa. Người ta có dịp nói chuyện với ông cựu chiến binh vui tính và tốt bụng. Vá miếng săm xe, lấy công vừa phải, nhưng không như hàng khác, dễ bong miếng vá, có lỡ lời cũng chẳng sợ ăn quả đấm hoặc giơ mỏ lết ra dọa. Lúc chuẩn bị lên xe nổ máy, còn kịp nghe câu nói với theo: Cầu này… là của bọn tớ!

Nhịp cầu ấy, nơi họ có nhiều kỷ niệm. Mười năm sống mái bảo vệ nhịp cầu. Nói ra thì chuyện rất dài dòng, nhiêu khê nữa. Nhưng không thể không nói ra. Thì họ vẫn sống đấy thôi. Và đặc ân của cuộc sống, còn cho họ đất đai, con cái và ít nhiều còn có địa vị xã hội. Bởi thế mới có sự so sánh, có câu nói bất cần: Đếch xì! Lúc không có bom đạn mới nói hay. Lúc nó bổ nhào thì hắn ở đâu? Bàn chân của tao đây đạp cò. Không đạp cò hỏi làm sao mà rơi máy bay. Mấy tay phục vụ ăn theo, ít sai phạm đâm vớ bở. Chân tao đây, mới mang thương tật một đời. Tao mới đi khập khiễng thế này, chân nọ mới dài hơn chân kia một phần chiều ngang. Tao mới phải ra tận Hà Nội cùng mấy anh hùng nhờ người ta đóng giày cho vừa chân, độn lên cho đi không khập khiễng, lúc chào cờ ở hội trường Ba Đình, đón nhận mang tên của Bác Hồ cho Đoàn, Đội… Nói là nhu cầu, cũng có lý. Để người ta xả đi năng lượng thừa. Nhưng rồi họ vẫn có thói quen như dạo nào ở lính. Sáng mai gọi nhau dạy đi thể dục:

- Dậy thôi!

- Dậy rồi hả? Chắc là đêm qua thức lắm vào. Bỏ quách đi cái thói viết lách có phải sướng thân không?

- Cũng chẳng làm gì cả… Không ngủ được  hả… đọc chơi!

Họ chạy nhẹ nhàng. Miệng ai không biết, hô lên:

- Một… hai… ba… bốn!

- Một… hai… ba… bốn!

 Đáp lại se sẽ, cũng vừa nhịp thở.

Hưng là lính năm 1967, nhập ngũ cùng Dân một năm. To con, dân thị xã nên có vẻ “miệt” mấy “lão nhà quê” lắm. Hắn vênh mặt nói giọng trịch thượng, xin lỗi nứt mắt ra đã phải chạy tàu hỏa, bán lạc rang, móc túi vặt, có ai trong các anh biết nằm dưới gầm toa tàu tránh công an và phòng thuế chưa? Chỉ đến khi nói đến chuyện viết “thơ” để nộp cho tờ báo tường nó mới ngồi im lặng. Với ai, chứ Dân văn hóa lớp 10, thời chiến tranh là cao. Cán bộ người ta không sử dụng chả để nó phí đi à! Nói thế, cũng cứ ở lỳ cái tiểu đội khí tài. Là một số đánh nhau chứ có được đề bạt tiểu đội phó, tiểu đội trưởng gì đâu. Nhưng mà với Hưng thì khác lắm.

Hắn làm chi mà ốp bụng trên hòm đạn mà viết lách. Đời này, còn có người có ước mơ xa vời đến thế hay sao. Lúc chiến tranh người ta cần anh lính biết bắn súng, cần người có máu liều, không coi bom đạn ra cái chi cả. Chết, là một giấc ngủ dài vô tận. Ở trận địa đối mặt với máy bay Mỹ, không có chỗ cho người hèn. Nói thế thôi, chứ ở đâu cũng có người sợ chết. Nhìn thấy một người cóm róm, men theo bờ ruộng, không dám thẳng lưng mà bước, sợ máy bay trên đầu mà Hưng tức cười. Hắn nói: Đúng là chưa chi đã thót mất d… rồi.

Hắn nghe tuyên ngôn của anh khẩu đội trưởng “cựu” trong đại đội nói mà phục lăn lóc: Thà chết đứng chứ không sống quỳ! Anh ta hy sinh trong tư thế cầm cờ, tựa mình vào bờ công sự. Có bao cô gái ở thị xã và ven sông có chiếc cầu sắt, mất nhiều đêm nhớ thương anh mà nước mắt đầm đìa. Không ai khác, chính tay Dân thầm lặng viết một bài báo đọc trên đài, nghe cứ rưng rưng. Thú thật Hưng cũng không còn dửng dưng với “gã nhà quê”, dở hơi này nữa.

Lính, có cái xã hội tự nhiên của nó, ban đầu là tân binh thì gặp ai cũng gọi là anh xưng em, một năm sau thoát cái “binh nhì” biết thóp của nhau rồi là y rằng, mày tao chi tớ. Nhất là mấy tay to lớn khỏe như trâu, được giao ngồi số một đạp cò như Hưng, thì lính cũ cũng cứ là nể. Đầu tiên Hưng được giao số 1 phụ, nghĩa là cái anh số 1 chính đi ra ngoài (vệ sinh, đi lấy gạo, hoặc giúp khẩu đội nào đó vì khuyết anh số 1 đi vắng…) mới được thay. Có khi vì nhanh chân, báo động chạy ra pháo nhảy phốc lên số 1, quay pháo vù vù, anh chàng số 1 chính mới chậm chạp ra, lại giục: Xuống đi! Để tớ.

Mới kịp xuống, chưa hết bực mình đã có lệnh bắn. Nó đạp cò chui từ trong bụng pháo từng viên đạn sáng loáng. Cái vỏ cát tút to gần bằng bắp chân thoát ra nơi buồng đạn, khói bốc lên nghi ngút. Cứ tưởng tượng ra cái miệng của khẩu pháo như con quái vật, con rồng lửa mà Hưng ngây ngất ước ao mình phải ngồi ở vị trí ấy mới phải chứ. Khác với Hưng, Dân lại thư sinh như cái dây leo điểm trang màu mè cho khẩu pháo vậy.

Hắn được gọi ra giữa trận địa để đọc báo cho đơn vị lúc trực ban buổi trưa. Giọng đặc nhà quê vùng thượng lưu của con sông Chu, nhưng cố bắt chước tiếng của cô Kim Cúc ngâm thơ trên đài mới khê và dễ gây cười. Hưng cười lên ông ổng, vô duyên, sao người khác lại nghiêm túc thế không biết. Thế nên mới đụng nhau như trên đã kể. Và cái khẩu đội ấy có cái tật là ai cũng thấy mùi thơm của thuốc lá và thuốc lào. Dĩ nhiên là Dân cũng được ghép vào sinh hoạt cùng tiểu đội này rồi. Nhưng con số vẫn là tiểu đội chuyên môn, phục vụ cho pháo bắn nhau. Ví như anh chiến sĩ “Máy đo xa” đo cự ly cho pháo: “ 60…55…50…48…46…40…”, nghe Dân đọc mà sốt ruột quá.

Khoảng cách ấy cứ ngắn dần lại là máy bay bổ nhào, bỏ bom vào cầu và trận địa. Nếu nó là đứa mắt kém, trái tim loạn nhịp, sợ chết, cái máy quang học cực tối tân kia phóng to kẻ thù lên. Bộ mặt “quỷ dữ” nghêu ngao ngổ ngáo, người yếu bóng vía nhìn vào là sợ mất hồn. Đặt và theo dõi máy bay địch không chính xác, là cả một mớ đạn vãi lên trời oan uổng.

Nhiều lần cả khẩu đội, cả đại đội và trung đoàn hay một cụm pháo cao xạ, ngồi kiểm điểm nhau. Tại sao đạn tụt hậu, đạn lệch lên trên, đạn không chụm, ôm lấy máy bay? Chỉ những kẻ hốt hoảng, mặt xanh mét… bị bắt quả tang, còn sự thật bị những lý do khác vùi lấp hết. Không bắn được là sẽ chết? Hưng tắc lưỡi, nếu đạn “ôm lấy máy bay” thì nó đi đời rồi, còn ngồi với nhau mà kiểm điểm à! Hưng mau chóng vượt qua “anh lính sữa”, bởi cái chất thị dân, ăn nói báng bổ, bất cần, không nể sợ ai. Nhưng cái ấy chỉ làm anh thành kẻ bửa, nếu anh không là anh lính chiến thực sự.

Hưng có cái khổ người vuông vức, tay chân thô, rắn và dài, mắt tinh anh nên đưa vào vị trí nào của pháo cũng tốt cả. Nhưng phải ưu tiên chọn cái chân đạp cò. Vì tạo hóa sinh ra bàn chân đeo giày số 40 ấy, hầu như chuẩn bị cho cuộc chiến này rồi. Lúc làm số 1 chính thức, hắn nói, giọng kiêu:

- Muốn cho mấy viên đạn ra khỏi nòng pháo mà chả được! 

- Nói khoác vừa thôi! - Mấy đàn anh vốn là số 1 có hạng, nay lên chức khẩu trưởng cự lại.

- Không tin em sẽ bắn thử cho các anh xem.

- Được! Chú mày nhớ lời anh nhé: Khi hạ lệnh bắn, đơn vị cho bắn điểm xạ ngắn, dài hay vừa, chú mày phải tăng thêm một viên cho tao, nghe chửa? 

-  Rõ rồi! Nhưng lỗi là anh phải chịu tội cho em đấy!

- Không sao. Sai, mày phải trực nhật và rửa bát một năm, còn đúng thì miễn!

Khẩu đội của nó bị phê bình liên tục, thành tích bị các anh khác chiếm sạch. Lý do rất đơn giản là số một bắn sai điểm xạ, hơn các khẩu khác một viên. Tin này lộ ra lại cũng do tay Dân, nó giả vờ ngủ không nghe khẩu đội tranh luận về đề tài này. Bù lại thì cái hãng “Thằng Hưng số 1” cũng nổi tiếng khắp bà con các trận địa gần xa. 

Ông tham mưu trưởng Trung đoàn nói: “Cả đời huấn luyện, chỉ gặp được một hai trường hợp có cái “gan bàn chân” của pháo thủ số 1, tức là có sự nhạy cảm của một khí tài đặc biệt, là cái máy đếm chuẩn xác, bàn chân giậm cò, thoát ra từng viên một”. 

Chuyện điểm xạ ngắn, vừa và dài ai mà không biết, mỗi loạt bắn mấy viên. Nhưng  không phải ai cũng có bàn chân đạt đến trình độ thượng thặng ấy cả đâu. Pháo người ta sản xuất cho người Liên Xô dùng, mình nhỏ con biết làm sao được. Đủ độ cao nhưng cái phần nửa trên dài, cái chân ngắn, lúc đạp cò phần trên thì thừa mà chân ngắn cứ vẹo lệch, dướn người, cái tay quay pháo lệch, làm sao khiến cho bàn chân “êm ru” thoát ra, giật, giật từng viên đạn một. Mà cuộc chiến đấu thì không phải một lúc. Anh không thể đệm vào đó một cục gỗ. Về mặt ý chí, anh nói to lên rằng “con người chứ không phải vũ khí” nhưng anh có biết điều gì không, bắn như đổ đạn mà không rơi máy bay. Ngược lại kẻ thù không bị tiêu diệt, nó trở nên dạn dĩ, coi thường mấy anh tậm tịt, nên tha hồ mà thả bom. Bom mù mịt, nên không nhìn thấy máy bay. Bắn xua bắn đuổi, lại càng bị ăn đòn thù.

Hưng không lắm lý thuyết để hiểu rõ được mọi điều. Biết, và lý sự với cái giá trị thiên bẩm của bàn chân mình. Hắn lại không đọc sách nên chẳng biết hoa mỹ cho bàn chân mà “thần chiến tranh” đã chấm và sinh ra nó, đợi sẵn dành cho cuộc chiến này. Nó vẫn lỳ lợm, băm bổ trong ăn nói, nên cũng chẳng tiến bộ gì. Mấy đứa đi sau, hoặc do ốm đau, sốt rét, nằm trạm, bổ sung vào, thoát khỏi giai đoạn rụng tóc, được thắm da mát thịt mà thành khẩu trưởng, khẩu phó, có quyền cắt cứ, thậm chí nói này nọ khi hắn đi tắm, đi tranh thủ về chậm giờ. Hưng trong mắt nhìn mọi người là có tài, đánh nhau dũng cảm nhưng liệt vào loại bửa. Nó cũng chẳng cần cái chức vụ nhỏ ấy làm gì. Có địch vào, cả khẩu pháo này cứ phải theo vòng quay của nó. Và chân nó cho ra từng viên đạn một ròn rã. Những đứa lính mới vào thì phục một phép. “Anh Hưng” cho ra mấy viên đạn là y như rằng. Cái khóa nòng của số năm nặng non một tạ, đứa khác toát mồ hôi mới đạt yêu cầu, nhưng anh Hưng thì quay một tay, trả cái xoạch là nằm gọn trên vị trí cho pháo bắn. Dùng người đẩy pháo quay vòng tròn không biết mệt. 

Mấy ông họa sĩ đến trận địa sáng tác kháo nhau. Tạo hóa từ trong tâm thức đã lựa chọn Hưng làm biểu tượng cho người lính chiến mất rồi. Cái khổ người này là mẫu cho người ta xây tượng đài pháo thủ. Cao to, đầu cổ ngực, tay chân… cơ bắp nổi lên cuồn cuộn. Dưới áo vải của bộ đội mà vẫn hiện lên cơ bắp mới đẹp mắt làm sao. Cái mặt của Hưng thì “độc” không chịu nổi. Cặp mày cong, về cuối cái đuôi xẻ ra như hai cái cánh. Nhìn thấy cặp mày, cái mũi khỏe gánh hai cái cằm và hàm bạnh ra mà không khỏi thở dài. Tại sao kẻ có cái bộ dạng kia mà không là tướng tá chi hết. Cặp mắt rắn sắc ấy càng làm cho Hưng sắc lạnh hơn đời. Như nhận ra tâm can của kẻ khác, như mơ hồ phớt lờ, quên đi mọi điều, như thể mọi cái xảy ra là nhỏ bé và chắp nhặt cả mà thôi. Có nhiều  họa sĩ, ký giả trong và ngoài nước đến tham quan, hoặc thực tế “đơn vị thép”, người ta đều thán phục “đứa con thần chiến tranh này”. Người ta trầm trồ, khen cái dáng hổ vờn, gấu ngồi của Hưng. Nhưng cũng có một họa sĩ nói câu gì đó mà Dân nghe được, hay nói cho riêng Dân nghe như là một bí mật.

Hưng biết mọi nhẽ. Như biết ai cũng đều khát khao cái giá trị và sức mạnh của đôi chân mình. Như thể ngọn đồi này, có nhiều cây sim, cây mua, lọt vào đó một cây tùng. Trong chiến tranh, người nắm được vũ khí và sử dụng nó thuần thục là người có lòng tự tin hơn cả, là cầm chắc cái sống, hay qua mỗi trận đánh biết rõ mình đã đẩy lùi cái chết trong gang tấc. Những người chỉ huy cho pháo bắn, lại càng phải có bản lĩnh. Sau khi hô bắn điểm xạ đầu tiên là mọi lực lượng hỏa lực đang nằm trong tay anh. Là chờ từng phút, từng giây quân thù mò đến. Lúc này thì Dân hít căng lồng ngực, như một diễn viên lấy giọng cao, vang, xa, dõng dạc đọc cự ly: 60…55…50…45…40… Có thể bắt được kẻ địch từ xa do các trạm ra đa, quan sát bờ biển. Nhưng anh “máy đo xa” dẫn chiếc đầu tiên vào theo lệnh của chỉ huy. Dân cũng tự hào là mình đọc đến đâu pháo nhích nòng lên đến đấy. Khi đến cự ly bắn, tiếng đọc của Dân vừa dứt, là tiếng hố bắn tiếp theo. Cả trận địa vỡ ra trong tiếng nổ, tiếng bom và tiếng gào của phản lực, như có một sự sắp đặt kỳ diệu, bí hiểm và bi đát của lực lượng vô hình nào đó. Sau điểm xạ tự chủ, tình báo xa, tình báo ở các trạm ra đa mặt biển, của các trạm quan sát quang học, và cả sự cảnh giới của người lính đứng quan sát bằng mắt thường. Ta không hiểu hết bộ máy chiến tranh của địch khổng lồ đến mức nào, phần mình có thêm chiếc kẻng phòng không, Hưng vẫn ví von đó là những chiếc chuông gọi hồn phách con người vào trận. Lúc kẻ thù từng tốp, nhiều tầng, nhiều hướng bay vào, những người không có vũ khí trong tay chỉ biết đứng nhìn. Lúc đó Hưng và những pháo thủ như Hưng, lầm lì có phần tục tĩu, chửi tay số 2 chậm, tay số 5 nạp nhiều đạn vào… và đôi lúc, mà đôi lúc gì nữa, hắn mới là kẻ dám đối mặt với những chiếc máy bay đang bổ nhào trên đỉnh đầu. Anh có chạy trốn đằng trời thì cũng ăn bom, chỉ có bắn mới sống. Hưng dùng những lời không đẹp một tí nào. Ngu. Đồ ăn cứt… Nhưng không ai nói hắn là kẻ hèn nhát. Bom bỏ ngay cạnh công sự, đè ngay cái chân đạp cò mà vùi. Bị thương như là giả vờ, không nhận ra đau đớn nghiêm trọng gì, nhưng lúc ở viện, vác cái nạng khập khiễng về khẩu đội, thở dài:

- Có lẽ chuyến này tớ không làm được số 1 nữa các cậu ạ!

- Sao lại thế, có thấy điều gì khác lạ đâu?

- Đáng buồn! - Hưng kể cho khẩu đội nghe tình trạng đểu của chiến tranh. Bàn chân đạp cò người ta đo, to hơn bàn chân ở nể. Hắn dịu cái giọng oang oác ra mà nói khẽ - Chân trái của tao ngắn mất hai phân các cậu ạ!

Nghe chuyện này nhiều đêm Dân không ngủ được. Viết một bài đọc trên đài: “Người thương binh không xếp hạng”. Chính cái duyên số thế nào mà Dân ở mãi khí tài đến gần mười năm. Hưng thì vẫn thế, làm số một lâu nhất ở trận địa này. Chiến tranh dừng lại và ném bom hạn chế. Cái mẩu người như bức tượng thần chiến tranh của Hưng có dịp để mấy cô công nhân ở cái Xí nghiệp đóng tàu và ca nô toàn nữ kia ngắm nghía soi mói, sôi lên, vì Hưng là mục tiêu để họ lùng sục. Các cô gái tìm đủ chuyện để được lên trận địa mà ngắm sản phẩm của tạo hóa ban tặng cho chiến tranh, bây giờ ế ẩm vì cần gì đến cái chân ngắn, to và tù kia chứ. Có kẻ nói thế, có người đồn đại về khuyết tật của Hưng. Hưng không yêu những cô gái nhỏ bé, xinh xinh làm gì. Hắn lại chọn một cái “xà lan” của xí nghiệp không ai chở đi. Người ta cũng không bắt gặp yêu đương vào lúc nào, ở đâu. Nói cưới là cưới. Nói đẻ là đẻ ra hai đứa nhóc, ở nơi háng đứa trẻ nhú ra “cái tẩu” của cha nó! Hưng nói thế khi thở ra khói thuốc. Hắn cười, nào chiến tranh, có giỏi thì kéo dài đi nào, tớ có đứa để nhập lính và chẳng may lão bố này tịch thì có kẻ chống gậy rồi. Cùng lúc đó cái gã trắc thủ kiêm “nhà báo nghiệp dư” kia, người ta cũng không nhốt ở trận địa làm gì nữa. Họ cử lên trung đội, cũng chẳng lâu la gì, chỉ ba tháng lại về làm thủ trưởng cái thằng Hưng bố mấy đứa con nít ở Tàu Thuyền. Tất nhiên Hưng không nhận và được cử bất cứ chức vụ gì. Đi học, không ai cử quần chúng, lại quá lứa như hắn cả. 

- Tôi không khiến anh viết điều gì về tôi, để cái số phải nằm gai nếm mật ở một trận địa hàng chục năm trời!

- Mày, chỉ nói bậy, đi… đi biết đâu hy sinh rồi. Tao giữ mày lại vì sợ hai đứa con của mày mất bố. 

Hưng toan vặc lại Dân, cho là những lời giả dối. Dân đã cặm cụi viết về “người pháo thủ có đôi chân kỳ lạ”. Lúc nhập ngũ hai chân bằng nhau. Dứt khoát là trong phiếu “quân trang” của Hưng ghi đi giày 39 mà lại. Những những năm về sau, Hưng đi giày cộc cạch, chân phải 40 chân trái 41, thậm chí còn hơn nữa. Bằng chứng là một trận đánh, rất hy hữu. Cả khẩu pháo của Hưng bị bê đặt xuống hố bom ngay sườn đồi. Cái chân đạp cò bị lèn chặt đất. Sau này Hưng nói thật hay phóng đại, hắn bảo nghe đến cục một cái và bàn chân ấy thành ngắn hơn, dạo đầu nó hơi “cà nhắc”, nhưng hắn cũng muốn kiếm một cô “Tàu Thuyền” mà cố gắng đi cho nó bằng nhau. Nhưng bất đồ hắn trúng đại biểu Đoàn, Đội… được vinh dự mang tên “Hồ Chí Minh”, ra Thủ đô để nhận vinh dự này. Tất nhiên hắn không có đôi giày nào cho vừa. Cùng với mấy người anh hùng dân quân, chân đất, đi đóng giày. Thợ giày thấy lạ đề nghị bác sĩ khám. Chiếu điện không phát hiện ra điều gì lạ cả. Nhưng da ở gan bàn thì dày. Dây thần kinh xúc giác ở đây cũng khác thường. Nếu nước mình dư dả, không bận đánh nhau thì có thể đưa đi nước ngoài cho người ta nghiên cứu, đó là hiện tượng không bình thường. 

Dân đã viết bài về tay Hưng đầy khó chịu này. Hưng thành “hiện tượng” mất rồi. Các phái đoàn trong nước và quốc tế đến tham quan trận địa anh hùng nhiều khi tò mò muốn sờ mó bàn chân kỳ dị ấy. Thậm chí có nhà báo chụp ảnh mỗi bàn chân. Chú thích: Bàn chân biết đếm. Nhiều cô gái ở các xí nghiệp, dân quân quanh vùng hiếu kỳ đến trận địa để nhìn mặt mũi cái con người dị biệt đó. Hưng cũng là kẻ phá bĩnh, ai khuyên cũng không được, lấy ngay một cô gái to béo, khỏe như vâm mà ta đã biết. Có hiểu sao không, cô ấy lên tập pháo thủ số một. Lúc hướng dẫn đạp cò, cu cậu đã sờ mó đôi chân ấy. Nó nhỏ nhắn, chứ không “vũ phu” như chân mình. Mặt khác, nếu trời mà thương sẽ cho ra đời một thế hệ pháo thủ làm mẫu cho thiên hạ.

Đến cái năm mà Dân lên đến chính trị viên phó chuyển về, Hưng vẫn là pháo thủ. Nhiều lần Dân cãi nhau tay đôi với Hưng:

- Tại sao thế! Nhìn xem còn ai ở trận địa này lâu hơn mày không?

- Không sao hết! Tôi khấn trời phật thương mà che chở, bom đạn rơi ra ngoài mới  sống được đến bây giờ đấy!

Dân im lặng. Như thấy mình có tội. Sự thật này, Dân nói cùng ai được đây. Nó ở trận địa này gần mười năm. Có bàn chân như điện, bắn phát nào ra phát đó, chỉ vì một lần trong khẩu đội có người mất cắp. Mười ngàn phụ cấp. Hỏi ai cũng nói là không lấy. Đành để ba lô ra bãi cỏ ven sườn đồi. Cử những người tin cậy khám từng chiếc một. Người ta tìm thấy trong ba lô của Hưng nhiều thuốc lá. Người lính bình thường lấy đâu ra? Mười đồng bạc được bí mật lấy lại cho người mất. Người ta không quy cho Hưng, vì thi đua, đơn vị đang được xây dựng anh hùng. Không có một lệnh nào bí mật cả, nhưng nếu đặt vào cái diện cảm tình, hay đi học này nọ thì Hưng và Dân đều được ở lại. Ở lại xây dựng trận địa này. Dân mãi đến khi được điệu lên Trung đoàn viết sử, rồi giải tán tổ sử mới được đề bạt trung đội phó và chính trị viên phó…

- Bây giờ mày phải phấn đấu! - Dân nói.

- Thôi, muộn rồi. Không cần thiết. Cứ để làm số 1 cho trót đời.

- Tại sao?

- Còn tại sao nữa. Cán bộ to không đến phần tôi. Cán bộ nhỏ tôi xin không nhận. Thôi đi!

- Còn mười đồng ở ba lô cậu thì sao?

- Tiền nào?

- Mười đồng mất cắp ấy?

- À! Của cái Mận, nó đưa để tôi sắm đồ cưới ấy mà.

- Sao mày không nói, để mang tiếng là “ăn cắp” đến tận bây giờ?

- Tôi biết có đứa lấy. Nhưng thương hại, chúng nó túng. Còn tôi và ông, thôi… quên đi!

 Rồi Hưng nói với Dân: 

- Cái miệng ông dẻo quẹo quá đấy. Mồm miệng đỡ chân tay, nhưng cũng liệu mà kiếm một đám nào, chiến tranh biết đến bao giờ?

*

*     *

Ngày Dân còn là anh lính đo xa, được mang đặc ân của đơn vị giữ luôn giữ chiếc ống nhòm cực tốt của phái đoàn nước ngoài đến thăm trận địa tặng. Như người ta, lúc trực ban, ngồi mà nghỉ ngơi, nhưng Dân lại dùng ống nhòm quan sát mọi “thân thể” của nhịp cầu. Hắn hầu như biết được từng ca kíp trực của công nhân đội cầu. Trong số công nhân lên sân thượng hàn cầu, có một người hắn nôn nao chờ đợi. Cứ như thế đến hàng năm trời, nào có thời gian để gặp mặt và làm quen. Dân đã bao đêm thức làm thơ đề tặng người yêu trong mộng. Những bài thơ đó gửi đi nhiều, nhưng cũng mang số phận như chính tác giả của nó. Vì tình cảm thì nồng cháy, nhưng lời lại mộc mạc ngây thơ. Dân buồn lắm. Biết được điều này, Hưng đã cười ruồi. Đúng là vụng quá là vụng. Tao sẽ giúp mày. Hắn đem những bài thơ đó nhờ người yêu là Mận đưa tận tay cô thợ hàn vô danh kia. Hưng bảo với Dân, ông cũng là thằng trời ơi thôi. Ai lại yêu cái bóng trên đông cầu ấy. Mận của tớ là dân xí nghiệp Tàu Thuyền, lạ gì mấy em thợ hàn bên Cầu sắt. Ông nhớ cho là bọn này chỉ đưa thư thôi, rồi ông phải tự mình xuất hiện kẻo lộ, thằng khác nó đóng giả ông là hết hơi đấy. Cả một tuần, Hưng và Dân suy nghĩ, tìm cách ra cầu. Ra được cầu làm sao để gọi được cô em ở trên đông cầu xuống. Nhìn trong ống nhòm thì như thế. Cái lọn tóc tòe ra khỏi cái mặt nạ để hàn. Mận nhà này nói, cô ấy tên là Thảo, đóng quân tận làng bên sông. Con gái mỗi Thảo được duyệt lên hàn trên đông cầu về ban đêm thôi. Hàn về ban đêm, tưởng là an toàn nhưng nguy hiểm lắm. Thằng địch nó đến lúc nào ai mà biết được. Báo động tụt xuống mặt sàn thì bom đã bỏ rồi. Không ai muốn cho Thảo lên hàn cả. Dân nhìn ánh lửa hàn tóe ra trên đông cầu và dội vào màn đêm thăm thẳm. Phải tinh mắt lắm mới nhận được đó là hình  người con gái. Phải có độ thẩm tinh tường mới phân biệt được đó là Thảo. Sau này Dân đã thú nhận điều đó làm cho Thảo nghẹn ngào đến ngộp thở. Anh nói thế, em có nên tin không?

Hưng bàn cùng Dân, đành liều ba bay bảy cũng liều. Hai đứa xin đi chặt lá ngụy trang. Họ qua cầu giữa ban ngày ban mặt. Và đánh liều hỏi thăm về cô Thảo, thợ hàn. Người công nhân trực hỏi Hưng là gì với cô ấy? Hưng bảo là người nhà, cần đưa phong thư này. Bảo để lại đây tối nay cô ấy sẽ đi làm. Không được chúng tôi phải gặp và đưa bằng được, đến tận tay. Hưng và Dân đi bộ gần chục cây số đến nơi công nhân đội cầu đóng quân. Và Hưng đưa lá thư của Dân, khi hắn ngồi lầm lũi ở bờ rào chờ. 

- Em sẽ đọc và trả lời anh sau!

- Cô ơi! Cô đọc giúp tôi. Có người khổ vì cô hàng năm trời rồi đó.

Thảo thẹn thùng ngồi đọc. Hóa ra cái anh này, mình nghe tên thấy quen quen.

- Tôi xin báo để cô hay, Dân là tên anh ta đấy. Xấu hổ không dám vào, tôi phải đưa vào đấy. Bây giờ thì hai người ngồi đây!

 Một mình Hưng gánh lá ngụy trang về trận địa. Hắn bảo, tình yêu trong chiến tranh phải “hiện đại” nhưng không sống gấp. Cứ mở lòng ra cho nhau tham khảo, nếu không hợp thì sơm sớm kết thúc đi cho nó nhẹ người. Hưng nói với Thảo, đêm nào em lên hàn trên đông cầu, Dân cũng thức canh máy bay cho em đấy. Nó sợ mất cảnh giác, máy bay mò vào, pháo không bắn kịp, em ở trên ấy không xuống được thì sao?

- Anh liều quá đấy! - Thảo bắt đầu nói chuyện với Dân.

- Sao lại liều? - Dân hỏi lại.

- Không liều mà dám làm thơ và đề tặng cho tôi.

- Thì… ở trên đông cầu, máy bay nó phóng tên lửa như vậy mà không hề sợ hãi…

- Ai lên đó mà chả thế!

- Nhưng mà em…

- Sao anh lại biết là em không sợ?

- Đừng hỏi nữa… Chính em gọi anh trước đấy!

- Hôm nào?

- Hôm anh đi qua cầu có báo động ấy!

- Thì sao?

- Em chạy theo anh và gắt: Có báo động mà còn đọc cái gì nữa? Có vào mà trú ẩn không nào?

- Ối anh?

Dân như lịm đi. Bây giờ hay hôm ấy, không biết được nữa. Chính cái mái tóc có mùi bồ kết gội đầu, cái mùi chua của mồ hôi, khét của khói bom đạn làm Dân nôn nao. Một cảm giác xa xót, dâng trào trái tim bồng bột của người lính. Anh đón nó từ bao giờ mà thốt lên thành thơ.

Mùi nắng cháy, đạn bom

 mồ hôi chua lòm

Không át được hương thơm bồ kết

Nơi mái tóc em

Và nụ cười

Sáng bừng lên

Trong hầm tối

Như tia lửa hàn cầu

Em thắp sáng trong đêm!

*

*    *

Sáng nay, Hưng dậy sớm, chờ Dân gọi đi “một, hai, một, hai” như đứa cháu nội của Hưng vẫn nói. Không thấy Dân đâu. Quái lạ, hay hắn ốm. Đứng ở ngã ba ra Cầu Sắt, Hưng gọi:

- Ốm rồi hả?

- Đâu có! - Nói rồi Dân khẽ kéo cửa sắt bước ra, tay ôm một gói bọc giấy báo. 

- Có món gì đem theo để nhậu chắc? - Hưng hỏi bạn.

- Hoa!

- Hoa? 

- Ông không nhớ ngày này hay sao?

Trời ơi! Ngày này. Đúng ngày này, bàn chân trái của Hưng nó gây chuyện. Mấy chiếc A4D nó phóng tên lửa từ xa vào cầu. Có phải Hưng thì đã khác, nhưng mà cánh lính mới nó nào biết nếp tẻ gì về thủ đoạn của bọn Mỹ đâu. Chờ cho cánh đo xa đọc cự ly hiệu quả thì chúng đã định vị tên lửa và bay quặt ra mất rồi.

Lúc đó, hai bóng người vẫn treo lơ lửng trên đông cầu. Hai quả tên lửa của địch nhằm vào cầu lao vun vút. Một số đơn vị còn bận đuổi theo chiếc F4H và A3J uốn lượn như đôi rắn nước rẽ sóng.

Hưng từ trạm xá bên bờ Bắc nhìn thấy hai quả tên lửa như hai bó đuốc ném vào cầu mà bàng hoàng cả người. Chết tôi rồi. Hôm nay phiên Thảo lên đông cầu. Trời ơi! Không ai bắn hai máy bay để nó thoát ra từ trong mây phóng tên lửa. Mặc cho bác sĩ bảo phải ở lại mà phẫu thuật, lấy bớt xơ gai cơ đã thoái hóa kẻo bàn chân mang tật suốt đời, Hưng chạy một mạch về cầu, miệng lẩm bẩm:

- Thảo ơi! Em có việc gì không?

Người ta ném nứa luồng hai bên bờ xuống sông, may ra Thảo còn sống nổi lên thì bám lấy. Nhưng tất cả đều vô vọng. Hàng tuần sau Thảo trôi về tận lệch Hới. Dân ôm lấy xác người yêu mà than khóc: “Em dặn anh sẽ đưa mẹ xuống nhận con dâu kia mà!”

Hưng và Dân về sống ở đây. Hưng là công nhân cơ khí về hưu, “bàn chân thương tật” mang cả một câu chuyện dài. Chuyện của Dân không ai biết. Mười năm trên trận địa đầu Cầu Sắt. Không một hòn đất nhỏ nào rơi vào người, máy bay đánh vào trận địa mà không hề bị thương. Khám thương tật, bác sĩ lắc đầu. Lành lặn. Nhưng chấn thương trong lòng thì máy móc đành chịu.

Hôm nay, Hưng phải thay Dân hô:

- Một…hai …ba…bốn!

- Một…hai…ba…bốn!

Dân đáp lại lời hô rời rạc. Đến thanh sắt dầm cầu nơi Thảo ngã xuống, hắn nói gì chẳng rõ, bàn tay khẽ tung bó hoa xuống nước.

Hưng tự trách mình. Hôm nay là ngày Thảo ra đi. Cái dấu vết mà bàn chân của Hưng mang, không thể nào sánh nỗi đau mà Dân chịu đựng. Chả trách hắn bảo: Hô một, hai, ba, bốn… để Thảo nghe, lúc ta chạy đến đầu cầu.

Tác giả bài viết: TỪ NGUYÊN TĨNH

Nguồn tin: www.vannghequandoi.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy trang webs của chúng tôi như thế nào ?

Rất đẹp

Bình thường

Rất xấu

Ý kiến khác

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng