19:12 EST Thứ tư, 13/12/2017
Nhiệt liệt chào mừng các đồng chí và các bạn đã ghé thăm ngôi nhà chung của những cựu quân nhân Sư Đoàn 316 anh hùng của chúng tôi!

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 1750

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 26118

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7670997

Kỷ Niệm Ngày 22/12

Kỷ Niệm Ngày 22/12

Trang nhất » Trang Văn Nghệ » Trang Văn Xuôi

Gặp mặt truyền thống hội đồng ngũ sư đoàn 316

Hình Ảnh Hoạt Động Của Chúng Tôi

Qua cơn binh lửa

Thứ hai - 30/09/2013 09:31
Qua cơn binh lửa

Qua cơn binh lửa

Cuối tháng 12-1974. Đại đội tôi rút về huyện Phù Mỹ, Bình Định. Tôi được bố trí giữ làng Mỹ Phong. Dân sống ở làng này nửa theo Quốc gia, nửa theo Giải phóng. Ban ngày lính Cộng hòa giữ làng, tối rút ra ven vừa canh phòng vừa ngủ.
Lại sắp Tết rồi. Đây là cái Tết thứ hai xa nhà của tôi. Năm ngoái tôi là sinh viên sĩ quan, đi thực tập tác chiến ở Pleiku, lúc đó còn “dù” về được mấy ngày trước Tết. Năm nay lĩnh nhiệm vụ rồi, mình chỉ huy mà “dù” thì lính cũng “dù”, thôi đành để qua Tết đi phép vậy.

Đại đội tôi có 4 trung đội. Trung đội 4 là trung đội súng nặng, đóng ở Ban chỉ huy đại đội, được bảo vệ bởi tiểu đội trinh sát. Các trung đội 1, 2, 3 đóng chung quanh bảo vệ vòng đai. Tôi nắm trung đội 1.
Chiều 30 Tết, ba trung đội 1, 2 và 3 chia nhau đi kích ba mặt làng. Thay vì đi riêng, tôi rủ chuẩn úy Phước nắm trung đội 2: “Giờ mình tẻ ra, nhưng tối đến tao với mày hú nhau kéo lính chém vè đi kích ngủ chung cho vui, cùng đón giao thừa. Mày còn độc thân, chớ tao đã có vợ con, buồn lắm mày ơi!”. Chuẩn úy Phước đồng ý. Phước là dân Đức Lai - Phan Thiết, cũng “ưu tiên” gia cảnh nên được về Phan Rang gần nhà.

Tôi dẫn quân đi trước, trung đội 2 của Phước theo sau. Trung đội 1 toàn lính chì nên coi như tôi chỉ huy luôn 2 trung đội, dẫu sao Phước ra trường sau, cũng nhát và thiếu kinh nghiệm hơn tôi. Lực lượng tụi tôi gộp chung mạnh và đông gấp đôi.

Chiều đó, tôi dẫn lính đến một ngôi trường nhỏ. Chúng tôi dàn quân bố trí, trải mùng mền… Nhưng tối đến, tôi ra lệnh cuốn chăn chiếu lòn đi nơi khác - nghĩa là “dương đông kích tây”, đề phòng bị mật báo sẽ dễ ăn đạn pháo kích.

Đang đi, tôi gặp ánh đèn xa xa băng tắt đường ruộng, liền ra lịnh ém quân hai bên vệ đường. Theo luật tại đây: Tối không ai được ra đường. Có việc cần thiết muốn đi thì phải cầm đèn, nếu không sẽ bị lính bắn chết vô tội vạ.

Khi ánh đèn tới gần, tôi nhận ra đó là một bà già, tay cầm đèn bão, tay cầm cái kiềng sắt ba chân. Lính tôi hỏi: “Bà đi đâu?”. Bà ta trả lời: “Các ông cho tôi đem kiềng trả đứa con dâu. Tôi mượn nó nấu bánh tét, bữa nay tối 30 rồi…”. Tôi gật đầu, nói: “Bác tắt đèn đi. Đi chung với lính, bác không cần thắp đèn”. Thật ra có ánh đèn chúng tôi dễ bị lộ. Tôi nắm tay bà già lần đi trong đêm tối mà nhớ mẹ mình, nhớ ngoại mình. Tôi hỏi bà: “Năm nay bác ăn Tết lớn không?”. Bà già thở dài: “Ăn Tết cho qua cậu ơi! Chiến tranh lớn làm sao ăn Tết vui được” . “Dạ! Tụi con mấy ngày Tết mà còn phải đi kích đây nè. Nhớ vợ nhớ con quá trời!”. Bà già hỏi thăm qua gia cảnh tôi, tôi cũng vui vẻ giải tỏa tâm sự …

Tôi đưa bà già đến tận nhà, biếu bà hai hộp thịt: “Con mới lĩnh quà Tết quân tiếp vụ, bác cầm lấy ăn Tết nghe”. Bà già tỏ vẻ cảm động. Tôi tiếp tục dẫn quân đi, lòng thấy vui vui.

Đến một căn nhà hoang bị bom đạn phá tanh bành chỉ còn lại vài bức tường loang lổ, tôi nói với chuẩn úy Phước: “Mày dàn lính phía bên trong, tao dàn lính nằm áp lộ. Chút nữa tao với mày vào sau mấy bức tường ngủ, nói mấy thằng tài-lọt chuẩn bị đồ ăn Tết, uống chút rượu mừng năm mới. Năm nay hai bên ngưng chiến 24 giờ ăn Tết mà. Kích thì phải kích chớ không có gì đâu.”

Đúng 12 giờ đêm, chúng tôi nghe tiếng pháo và súng nổ dòn dã phía Bộ chỉ huy Chi khu, Tiểu khu, Tiểu đoàn… À! Các sếp lịnh bắn súng thay pháo mừng giao thừa. Những làn đạn lửa đỏ rực bay đan trên trời, hỏa châu thắp sáng thay pháo hoa… Phải vậy chớ! Ai đâu lấy pháo đạn đi bắn nhau…

Dân ở quanh chỗ tôi nằm kích không có pháo đốt mừng xuân, mà chúng tôi cũng ra lịnh không được đốt pháo - sợ Cộng quân lợi dụng tiếng pháo bất ngờ tấn công như năm Mậu Thân. Hai trung đội lính nằm kích im phăng phắc. Tôi và Phước nằm ngửa mặt lên trời ngắm hỏa châu và nghe súng nổ râm ran. Súng nổ không chết ai, vui quá!

“Mai mốt hòa bình, Tết chắc vui lắm hén!” - Tôi nói. Phước “Ờ…” rồi im lặng! Nó cũng đang nhớ nhà. Mãi sau Phước mới nói: “Hòa bình… ông tới nhà tui chơi nghe?...” Tôi cười: “Tới chớ. Mà mày phải tập uống rượu, và tới nhà tao trước.”

Tiếng súng thay pháo thưa dần, nhưng khoảng một tiếng sau, những tràng nổ lại dòn dã. Lần này toàn tiếng AK và CKC… Tôi và Phước bật dậy. Đám lính nhiều đứa đang nằm ngửa ngắm sao trời cũng lật mình ôm súng. Thiệt hú hồn! Du kích và quân Giải phóng đang nằm gần chúng tôi, tiếng súng nổ nghe lớn vậy nghĩa là họ chỉ cách chúng tôi chừng năm chục mét…

Súng AK và CKC vẫn tiếp tục nổ thay pháo. Ra “bên đó” cũng bắn súng mừng giao thừa. Vui quá! Phước nói với tôi: “Miền Bắc và miền Nam cách nhau một múi giờ ông à.” Tôi gật: “Phải chi hòa bình, đất nước thống nhất, không cần chia múi giờ, hai miền Nam Bắc mình cùng đốt pháo một giờ ăn Tết chung.”
Tôi rót thêm rượu ra nắp bi-đông: “Uống chút nữa đi mày. Đêm nay phải vui, tụi mình không chết đâu”. Phước gật: “Lúc nãy mà mình nổi hứng cho anh em bắn súng đón giao thừa, chắc mấy ổng nằm sát bên kia cũng giựt mình hén”. Tôi cười: “Ờ, nhưng mình cũng không sao đâu. Tao chắc vậy. Mấy ổng cũng quân tử lắm.”. “Sao ông biết?” . “Bộ mày không thấy hồi nãy đạn lửa bên mình bắn túa lên trời làm pháo hoa đó sao? Nếu muốn, mấy ổng chỉ cần nhắm chỗ đạn lửa phát ra mà dập pháo là hết chạy.” . “Ờ há!...”.

Tôi rút súng hướng lên trời, nổ liên tiếp cho tới khi hết đạn …

5 giờ sáng tôi đã dậy, khua anh em gác ca cuối ra gỡ mìn phòng thủ đã gài đêm qua. Chỉ lo có người đi xông nhà sớm lỡ đạp phải thì tội.

Nhưng khi vừa bước ra khỏi căn nhà không mái thì tôi giật thót mình! Tôi chạy vô kéo tay chuẩn úy Phước: “Dậy! Dậy mau!”

Tôi cầm máy hấp tấp báo về Đại đội: “Báo cáo… đêm qua quân Giải phóng về cắm cờ và chăng băng rôn đầy làng Mỹ Phong…”

Trung úy Tâm - Đại đội trưởng chửi thề trong máy, rồi ra lịnh cho ba trung đội 1, 2, 3 phải nhanh chóng tiến vào làng gỡ bằng hết cờ và băng rôn.

Chúng tôi cẩn trọng tiến vô làng. Truyền đơn rãi đầy các lối ngõ. Chúng tôi đã biết rõ những nhà nào có con đi lính Quốc gia, nhà nào có con theo Giải phóng.

Áp sát các nhà có treo cờ, bao vây xong, tôi bắc loa ra lịnh cho người trong nhà phải ra gỡ. Chúng tôi không dám gỡ vì sợ gài mìn.

Một bà già bước ra nói với chúng tôi: “Mấy ông Giải phóng cắm cờ đón Tết, chớ tụi tui đâu có cắm. Sao mấy chú không gỡ mà bắt tụi tui?”. Thiếu úy Tiến nói: “Sao nhà khác không cắm cờ mà nhà bác cắm cờ? Nếu bác không gỡ thì tụi tôi bắt buộc phải bắn gãy cột cờ, lỡ cháy nhà bác phải ráng chịu”. Bà già nghe hoảng, phải kêu con cháu ra gỡ cờ.

Trung đội tôi hướng tới cây cờ Giải phóng thiệt to và rộng, được treo cao nhất. Đó là nhà có con trai làm xã đội trưởng du kích. Ông già chủ nhà đó rất cương, ông ta nói: “Con tui làm xã đội trưởng là chuyện của nó. Tối qua nó vô nhà tui ăn Tết, nó treo cờ hồi nào tui đâu có hay. Còn chuyện gỡ cờ là chuyện của mấy ông. Mấy ông bắt thằng già này leo tuốt lên đó thì coi sao được? Mà tui cũng leo hổng nổi. Mấy ông muốn bắn, muốn giựt mìn cho gãy cờ thì cứ việc làm, dân tụi tui cũng phải ráng mà chịu. Sức thanh niên như ông thử leo lên đó coi có nổi không?”. Tôi cứng họng. Ông già gân đó thấy tôi lúng túng, liền cười rồi nói: “Thấy chưa? Nói vậy để mấy ông đừng ép người dân quá.”
Vừa lúc đó chuẩn úy Phước tới, anh ta kề tai tôi: “Hơi đâu mà lý sự với ông già liều mạng đó. Ông cứ cho lính quăng dây kéo gãy cột cờ. Nếu có mìn nổ cháy nhà thì ông ta phải ráng chịu, mà mình cũng không mang tiếng ác. Đó là tại con cháu họ.”

Chuẩn úy nhỏ con dáng thư sinh này tính cũng hay! Sinh viên Văn khoa có khác.

Tôi hiểu, ở vùng này lính Quốc gia làm mếch lòng dân nhiều. Đã có lúc lính đi càn muốn bắn ai thì bắn, trâu bò lợn gà muốn ăn là bắt, người dân không dám chống cự hay nói tiếng nào hết. Làm vậy nên dân ngoài mặt tỏ vẻ sợ sệt nhưng trong lòng ngầm ủng hộ quân Giải phóng. Phải dùng bài tâm lí chiến mới được. Tôi hạ giọng nói với ông già: “Tui biết bác có con là xã đội trưởng du kích, nhưng tui làm lơ, có khó dễ gì bác đâu. Bác có cái radio chuyên nghe đài Hà Nội, đáng lẽ tôi phải tịch thu, nhưng đã dặn bác phải giấu đi. Bác hiểu cho. Chúng tôi đi lính, nhiệm vụ cấp trên giao thì phải chấp hành. Nếu bác không gỡ cờ buộc chúng tôi phải tìm cách gỡ, nếu có mìn con bác gài, nổ cháy nhà thì bác phải ráng chịu đó nghe”.

Ông già gân nghe tôi nói vậy cũng bối rối. Vì chính ông cũng không biết con trai mình có gài mìn hay không. Tôi đứng từ xa nhìn tụi lính quăng dây kéo cột cờ mà tim đập thon thót, mồ hôi chảy đầm quân phục… Rất may là không có mìn!

Trưa đó Chuẩn úy Phước nói với tôi: “Họ tính rồi! Gài mìn lỡ chết người, cháy nhà trong ba ngày Tết rất xui xẻo”. Tôi gật: “Quân tử mà!”

Suốt mấy ngày Tết chúng tôi vẫn phải chia quân kích tại bìa rừng, rồi phải gài mìn bảo vệ khu vực chung quanh. Những lúc ở trong làng, chúng tôi bám vô những nhà có người theo Giải phóng. Bám vào nhà có người thoát ly rất có lợi, một là kiểm soát được gia đình đó, hai là du kích không dám tấn công vì sợ chết người thân. Kinh nghiệm này chúng tôi rút ra được từ năm trước. Ngày đầu chúng tôi đến đóng ở làng Mỹ Phong này, sáng vừa tới thì chiều bộ đội đã đánh phủ đầu. Nhưng lính Thần Hổ cũng đâu có vừa, lại được yểm trợ vũ khí mạnh nên quân Giải phóng ban ngày tấn công không nổi, đành đêm đến mò vào bắn tỉa.

Tôi biết mình sống ở vùng đất này, nếu dân ghét là trước sau cũng chết, nên hết sức cẩn thận, hòa hoãn với mọi người. Do đó tôi được nhiều người mến, thỉnh thoảng họ đem cá, gạo, bánh trái cúng giỗ đến tặng. Tôi là người được mời ăn nhiều nhất, mà thực ra không mời cũng không ổn. Đã có lịnh không được tụ tập đông quá 5 người, nếu nhà có đám phải báo cáo. Vì vậy họ mời tôi cũng là báo cáo, mà tôi cũng ham vui, hòa đồng, nghĩ họ quí mình mới mời, mình làm kiêu người ta ghét. Mỗi lần đi ăn tôi thường dẫn theo trung đội phó Dư và anh Bông truyền tin, còn lính thì đóng quanh nhà để bảo vệ. Chúng tôi còn cẩn thận gài mìn chung quanh đó nữa, lính chỉ được đi lại nấu ăn trong phạm vi đó thôi. Người dân có nói lấy bánh trái xôi gà ra cho lính ăn, thì tôi nói không được phép. Thực ra tôi muốn tránh cho lính mình ham vui ăn nhậu, say sưa lơ là bảo vệ. Êm thì không sao, lỡ xảy ra chuyện gì thì hối không kịp.

Một bữa trưa ngày rằm tháng giêng, có một bà già đi ngang qua tôi và nói nhỏ: “Ông giả bộ đi vệ sinh, ra vườn sau tui sẽ nói chuyện”. Tôi gật đầu, trong vườn phía sau có lính của tôi đang phục. Tôi ra trước, khoảng 5 phút sau bà già ra tới, bà kể: “Ông không nhớ tui đâu. Tui là người cầm đèn với cái kiềng đi tối ba mươi đó.”

Tôi nhìn lại bà già, bà cười: “Bữa đó ông tốt quá! Nói thiệt, con tui là du kích trong tổ bắn tỉa tam tam. Tối đó nó đang canh bắn ông…”. Tôi giựt mình: “Vậy sao?”. Bà già gật: “Nó được phân công bắn ông trước giao thừa để ăn mừng năm mới. Nhưng hên cho ông là bữa đó lính đi kích đông quá! Mọi lần đi có một trung đội, mà sao hôm đó đi tới hai trung đội. Nếu nó bắn ông rồi thì sẽ bị trung đội phía sau chận bắt. Mà bữa đó vô tình tui lại đi bên cạnh ông, nó lo cho tui…”.

Tôi toát mồ hôi! Vậy ra đêm giao thừa đó tôi thoát chết là nhờ bà già này mà không hay…

Bà già kể tiếp: “Đêm đó thằng con tui về, nó hỏi sao má đi với thằng cha chuẩn úy đó? Tôi nói ông chuẩn úy trẻ đó tốt lắm, cho má hai hộp thịt ăn Tết đây nè. Người ta cũng vì hoàn cảnh mà phải đi lính. May mà con chưa bắn ổng, chớ má biết con bắn ông ta thì má đau lòng lắm!”. Tôi thẫn thờ ngồi nghe, rồi hỏi: “Bác kể chuyện này với tôi làm chi?...”.

Bà già nói: “Cũng vì chuyện đêm đó con tui không bắn ông, mấy ông chỉ huy bên cách mạng trách nó không can đảm lập chiến công mừng xuân. Đêm sau có người trong tổ tam tam vô nhà tui, thấy lon thịt mà bữa đó ông cho, họ nghi má con tui ngả theo lính Cộng hòa…”.

Tôi gật đầu, bà già kể tiếp: “Thằng con tui mấy bữa sau nói với tui: Mấy ổng giao cho con tiếp  tục theo dõi bắn tỉa ông chuẩn úy đó. Mấy ổng chỉ huy muốn xác định lập trường con. Con kể lại chuyện má nói với con, và xin mấy ổng chuyển nhiệm vụ bắn tỉa đó cho người khác. Có ông nói: Anh đã tiết lộ chuyện này cho má anh, thì thế nào má anh cũng tìm cách nói cho tên chuẩn úy ngụy đó đề phòng. - Bà già kể tới đây nhìn tôi - Vậy đó. Con tui thấy mấy ổng không tin tưởng mình nữa, nên chán nản, vả lại trong rừng khổ lắm! Nó muốn… hồi chánh. Bữa nay tui muốn gặp ông là để nhờ ông chuyện đó.”

Tôi sốt sắng: “Bác hãy nói anh ta về đi, con nhận”. Bà già gật đầu: “Khoảng mười giờ rưỡi sáng mai, nó sẽ bận đồ màu xanh, mang nón lá, tay cầm cuốc bang đất ở ruộng phía bên kia, chỗ gần cây đa. Các ông làm ơn cho nổ súng rồi mới bắt nó, chớ nếu không gia đình tôi bị làm khó, không ở đây được…”.


Sáng hôm sau, y như sự sắp xếp, chúng tôi “bắt” được anh con trai của bà già. Tay súng bắn tỉa đó nhìn tôi, mắt ngơ ngác rưng rưng…

Tôi ra lịnh “cột” anh ta, tống lên xe rồi chở lên tỉnh. Tôi viết một cái giấy tường trình sự việc chiêu hồi của anh ta rồi gửi cấp trên, coi như  xong nhiệm vụ, nhẹ cả người,  không để tâm số phận anh ta sau đó thế nào. Còn bà già vẫn ở đó với gia đình, tôi không dám vô nhà bà. Có lần gặp bà đi chợ, bà tránh nhìn tôi. Tôi muốn dúi cho bà chút quà gì đó, nhưng rồi tôi chỉ dám nhìn lướt qua như người xa lạ, rồi quay đi…
Đầu tháng 3-1975, quân Giải phóng tổng tấn công miền Nam, Tiểu đoàn 231 Thần Hổ của tôi được máy bay bốc ra Buôn Mê Thuột giải cứu cho hai Sư đoàn 22 và 23 đang bị vây khốn. Nhưng quân Giải phóng đã bố trí một trận địa mai phục chờ đánh lực lượng tiếp cứu. Tiểu đoàn 231 vừa đổ quân xuống đã bị đánh úp, tiêu sạch. May cho tôi lúc đó đang nằm Quân y viện.

Chuẩn úy Phước thân với tôi cũng đã chết. Mảnh đạn pháo sắc lẻm cắm vào vầng trán rộng. Phước chết khi chưa kịp yêu, chỉ để lại hai bài thơ được đăng ở báo Văn - thời anh còn là sinh viên.

Ngày 16-3-1975, tôi lủi thủi theo đoàn quân chiến bại rút về Phan Rang, chính thức cởi áo quân nhân. Đời lính của tôi - kể cả 6 tháng quân trường, vỏn vẹn chỉ hơn hai năm. Hai năm mà xảy ra biết bao biến cố, nguy hiểm dồn dập. Hai năm dài thăm thẳm!

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chuẩn úy như tôi, lại mất bàn chân trái nên chỉ đi học tập chính sách 7 ngày tại địa phương.

Cuối năm đó, gia đình tôi đang chuẩn bị đón cái Tết hòa bình đầu tiên sau giải phóng, thì có một người đàn ông mặc quân phục, đeo quân hàm cấp úy đến tận nhà tìm tôi.

Tôi còn đang thắc mắc thì anh sĩ quan trẻ ấy nói: “Anh quên tui rồi sao? Tui là người bắn tỉa trong tổ tam tam đây nè”. Tôi giựt mình! Anh cười: “Mấy ông chỉ huy tui đã tương kế tựu kế, đưa tui vô hàng ngũ các anh - và anh là người đã viết giấy bảo lãnh tui hồi chánh đó”. Tôi nhìn anh ta từ đầu tới chân… Thì ra vậy!...

Tôi hỏi một câu ngô nghê: “Sao anh… biết nhà tôi?...”. Anh cười lửng lơ: “Ăn thua mình có muốn biết hay không”.

Sau đó, anh lì xì con gái tôi hai phong lương khô, tặng mẹ tôi xấp vải, và tôi gói thuốc lá Sông Cầu. Chúng tôi đã uống với nhau ly rượu cuối năm. Tôi hỏi: “Bà già anh khỏe không?”. Anh gật: “Mẹ tôi lâu lâu vẫn nhắc tới anh”.

Anh nhìn sâu vào cái chân cụt của tôi. Cái nhìn ái ngại. Anh nói: “Chân cẳng vầy… có đau lắm không?”. Tôi đáp khẽ: “Chỉ khi trở trời… Nhưng đi lại thì cực…”. Anh thở một hơi dài nhè nhẹ rồi ngồi xuống đưa tay nắn mỏm xương cụt của tôi. Bàn tay anh thật chắc. Và ấm. Rồi anh chào về.

Quãng hơn tháng sau anh trở lại. Trong tay anh là đôi nạng gỗ. Thủa ấy, kiếm được đôi nạng bằng gỗ xịn còn khó hơn cả mua xe hơi. Thương phế binh ngụy như tôi làm sao mơ. Vậy nên tôi quí đôi nạng như cặp chân mình vậy. Tôi không dám nói ra bởi sợ anh liên lụy, nhưng bụng vẫn thầm ơn ân nhân.

Thế rồi một ngày anh lại đến nhà tôi - đến bằng xe hơi. Anh diện sơ-vin khiến tôi ngạc nhiên. Anh cười: “Tôi chuyển ngành rồi. Hôm nay tới mời anh ra làm việc với tôi.” Tôi chưa hết mặc cảm bởi thân phận nên còn lưỡng lự. Nhưng anh đã kéo tôi lên xe, vừa cười vừa nói át đi: “Tôi bảo lãnh lại anh mà. Yên tâm”.

Thì ra anh là giám đốc một xí nghiệp sản xuất chân tay nhân tạo dành cho thương bệnh binh. Việc anh đề nghị tôi làm thật đơn giản, là đo những chân cụt để khớp mẫu cho vừa. Và mẫu đầu tiên anh bảo tôi làm là… chân tôi! Tôi còn dè dặt thì anh nói: “Anh đừng ngại. Là người thương tật nên anh hiểu nỗi đau hơn người thường. Anh làm chắc ngon!”.

Chúng tôi làm việc với nhau từ đó đến nay. Chúng tôi đã sản xuất hàng vạn bộ chân tay. Không chỉ cho những người thương binh đang hưởng chính sách mà cả những thương phế binh quân đội Cộng hoà. Anh hay nhìn theo những dáng người từng là lính phía bên kia vui mừng ngượng nghịu đi trên những chiếc chân mới do chúng tôi làm ra và nói: “Chiến tranh qua rồi, phải giúp họ có đôi chân để làm ăn chứ”…
PHAN ĐỨC NAM 

Nguồn tin: www.vannghequandoi.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới Thiệu Về Hội

Sau khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, chúng tôi luôn có chung một ước mong là có thể thành lập ra một hội những người đã từng tham gia rèn luyện ở môi trường quân ngũ để có thể thường xuyên trao đổi thông tin về cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ của một người con...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến chúng tôi thông qua

Do bạn bè giới thiệu

Do vô tình bạn tìm thấy

Do sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet

Phương thức khác

Hỗ Trợ Trực Tuyến

1
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Mã Văn Hải
Liên Lạc Viên

Name: Đồng chí: Nguyễn Văn Lợi

Sư Đoàn 316 Anh Hùng

Sư Đoàn 316 Anh Hùng